Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO THANH NIÊN NÔNG THÔN 1. Lý luận chung về đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn 1. Đào tạo nghề 1. Khái niệm Đào tạo nghề là hoạt động giáo dục kỹ thuật sản xuất cho người lao động để họ nắm vững một nghề, một chuyên môn, bao gồm cả người đã có nghề, có chuyên môn hay học để làm nghề, chuyên môn khác.
Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): “Những hoạt động nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng và thái độ cần có cho sự thực hiện có năng suất và hiệu quả trong phạm vi một nghề hoặc nhóm nghề. Nó bao gồm đào tạo ban đầu, đào tạo lại, đào tạo nâng cao, cập nhật và đào tạo liên quan đến nghề nghiệp chuyên sâu” [5,tr. Tại Điều 3 trong Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 “Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp” [15]. Hay nói theo cách khác, đào tạo nghề là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức đến người học nghề để hình thành và phát triển một cách có hệ thống những kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, trong đó có nhu cầu quốc gia, nhu cầu doanh nghiệp và nhu cầu bản thân người học nghề.
Như vậy, có thể hiểu, đào tạo nghề là hoạt động giáo dục trang bị kỹ năng, kiến thức và thái độ hành nghề cho người học để người học có thể tìm việc làm hoặc tự tạo việc làm cho mình và trở thành người lao động có trình độ đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động. Mục tiêu của đào tạo nghề Mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp theo Luật Giáo dục nghề nghiệp (2014), tại điều 4, được quy định như sau: “Mục tiêu chung của giáo dục nghề nghiệp là nhằm đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất kinh doanh và dịch vụ, có năng lực hành nghề tương ứng với trình độ đào tạo; có đạo đức, sức khỏe; có trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trường làm việc trong bối cảnh hội nhập quốc tế; bảo đảm nâng cao năng suất, chất lượng lao động; tạo điều kiện cho người học sau khi hoàn thành khóa học có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn”[15]. Như vậy đào tạo nghề được triển khai để thực hiện 4 mục tiêu chính : - Thứ nhất, đào tạo nghề là nhằm đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất kinh doanh và dịch vụ. - Thứ hai, đào tạo nghề tạo điều kiện cho người học sau khi hoàn thành khóa học có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn.
- Thứ ba, đào tạo nghề góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội và giải quyết các vấn đề về xã hội. - Thứ tư, đào tạo nghề tạo điều kiện để người lao động có việc làm, tìm kiếm việc làm và tự tạo việc làm cho mình. Thanh niên nông thôn 1. Khái niệm thanh niên Thanh niên là lực lượng có vai trò quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội của các bất kỳ quốc gia nào trên thế giới.
Tùy thuộc vào nội dung tiếp cận, góc độ nhìn nhận hoặc cấp độ đánh giá mà người ta đưa ra các định nghĩa khác nhau về thanh niên. Về mặt sinh học, các nhà nghiên cứu coi thanh niên là một giai đoạn 11 xác định trong quá trình “tiến hóa” của cơ thể. Các nhà tâm lý học thường nhìn nhận thanh niên là một giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi thơ phụ thuộc sang hoạt động độc lập với tư cách là một công dân có trách nhiệm. Dưới góc độ kinh tế học, thanh niên được xem là một lực lượng lao động xã hội, nguồn bổ sung cho đội ngũ lao động trên tất cả các lĩnh vực.
Với các triết gia, văn nghệ sĩ, thanh niên lại được định nghĩa bằng cách so sánh hình tượng: “thanh niên là mùa xuân của xã hội”. Các quốc gia, các tổ chức có những quy định khác nhau về độ tuổi thanh niên. Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế – xã hội của từng quốc gia và mục đích khi xác định khái niệm thanh niên mà quy định độ tuổi thanh niên cũng khác nhau. Ở Việt Nam, theo Điều 1, Luật Thanh niên (2020) xác định: “Thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi”.
Điều 4 của Luật chỉ rõ: “Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, xung kích, sáng tạo, đi đầu trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; có vai trò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thanh niên có quyền và nghĩa vụ của công dân theo quy định của Hiến pháp và pháp luật”[14]. Trong điều tra Lao động việc làm hàng năm của Bộ Lao động, thương binh và xã hội, nhóm lao động thanh niên thường được xác định từ đủ tuổi 15 đến hết tuổi 34. Dưới góc độ khác, Thanh niên được hiểu là một nhóm xã hội đặc thù, bao gồm những người trong độ tuổi từ 18 đến 30, có quan hệ gắn bó mật thiết với mọi giai cấp, tầng lớp xã hội, có mặt trong mọi lĩnh vực hoạt động xã hội, có vai trò to lớn trong hiện tại và giữ vai trò quản lý sự phát triển tương lai của xã hội.
Theo Điều 3, khoản 1, Luật Lao động Việt Nam (2019) có nêu: “Người lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được 12 trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động.” “Độ tuổi lao động tối thiểu của người lao động là đủ 15 tuổi” [13]. Với cách hiểu về tuổi thanh niên nêu trên, khái niệm thanh niên trong luận văn được đề cập đến được xác định như sau: Thanh niên là những người trong độ tuổi lao động từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi, là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đặc điểm của Thanh niên Theo Dương Tự Đam (2007), “Thanh niên, giáo dục và phát triển” , Nhà xuất bản Thanh niên, Hà Nội: “Đặc điểm của thanh niên rất phong phú và đa dạng, bao gồm cả những mặt tích cực và hạn chế” [8]. Tiếp cận thanh niên theo góc độ giá trị nhân cách chúng ta thấy nổi lên những mặt cơ bản sau: Thanh niên có khả năng thích ứng rất cần thiết cho sự trưởng thành phát triển nhân cách cá nhân; có ước mơ, hoài bão, khát vọng hướng đến lý tưởng cao đẹp; có nghị lực phi thường, có tính hăng say không chịu khuất phục.
Hiểu được những đặc điểm của thanh niên, bản chất tốt đẹp và khả năng cách mạng của tuổi trẻ là một vấn đề quan trọng để nhận thức đúng, có thái độ đánh giá và quan điểm giáo dục vận động phát triển thanh niên một cách khách quan khoa học và cách mạng, góp phần tạo ra hiệu quả lớn về giáo dục đào tạo con người mới, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đất nước. Nông thôn và thanh niên nông thôn Có nhiều cách hiểu khác nhau về nông thôn, nó phụ thuộc vào từng thời kì lịch sử và quá trình phát triển của mỗi quốc gia. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam , “nông thôn”: Là phần lãnh thổ của một nước hay của một đơn vị hành chính nằm ngoài lãnh thổ đô thị, có môi trường tự nhiên, hoàn cảnh kinh tế xã hội, điều kiện sống khác biệt với thành thị và dân cư chủ yếu làm nông nghiệp [12, tr. 13 Căn cứ Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13, đô thị hiện nay được chia theo cấp độ bao gồm: Đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I, II, III, IV, V.
Trong đó, tiêu chuẩn đô thị loại thấp nhất (loại V), gồm các tiêu chí sau: Vị trí, chức năng, vai trò là trung tâm hành chính hoặc trung tâm tổng hợp cấp huyện hoặc trung tâm chuyên ngành cấp huyện về kinh tế, văn hóa, giáo dục, đào tạo, đầu mối giao thông, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện hoặc cụm liên xã; Cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội đạt các tiêu chuẩn quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13; Quy mô dân số toàn đô thị đạt từ 4.000 người trở lên; Mật độ dân số toàn đô thị đạt từ 1.000 người/km2 trở lên; mật độ dân số tính trên diện tích đất xây dựng đô thị đạt từ 5.000 người/km2 trở lên; Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp toàn đô thị đạt từ 55% trở lên; Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc, cảnh quan đô thị đạt các tiêu chuẩn quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13. Như vậy, “nông thôn” là những vùng đất, vùng sinh sống, làm việc của cộng đồng chủ yếu là nông dân, sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, là nơi có mật độ dân cư thấp, cơ sở hạ tầng kém phát triển, tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hoá thấp, chưa đạt các tiêu chuẩn được phân loại đối với đô thị loại V nêu trên. Căn cứ hai nội hàm khái niệm nông thôn nêu trên, khái niệm “thanh niên nông thôn” được đề cập đến trong luận văn được xác định như sau: “thanh niên nông thôn” là những người trong độ tuổi lao động từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi, sinh sống tại các khu vực không đáp ứng được tiêu chuẩn đô thị loại V. Đào tạo nghề cho Thanh niên nông thôn 1.
Khái niệm đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn Thanh niên nói chung và thanh niên nông thôn là lứa tuổi đang phát triển, đang định hướng và đang trưởng thành về thể chất, tâm lý, trí tuệ, năng 14 lực và nhân cách. Vì vậy giáo dục thanh niên là nhiệm vụ của toàn đảng, toàn dân, toàn xã hội, cần được đặc biệt quan tâm. Dựa trên những khái niệm về đào tạo nghề và thanh niên nông thôn, luận văn xác định “đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn là dạy nghề cho những người có độ tuổi từ 16 đến 30 tuổi, có khả năng lao động, sinh sống trên địa bàn được xác định là vùng nông thôn, nhằm cung cấp cho họ những kiến thức, kỹ năng đáp ứng nhu cầu công việc hiện tại và cơ hội tìm việc trong tương lai”.