Chương 1: Cơ sở lý luận của việc quản lý hoạt động dạy học ở trường THPT Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở trường THPT Phan Đình Giót - thành phố Điện Biên Phủ Chương 3: Quản lý hoạt động dạy học ở trường THPT Phan Đình Giót, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên theo hướng tiếp cận phát triển năng lực 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề Trong nhà trường dạy học là hoạt động giữ vị trí trung tâm, chi phối mọi hoạt động khác và quyết định chất lượng giáo dục. Hoạt động dạy học bao gồm hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò. Hai hoạt động này song song tồn tại và phát triển trong cùng một quá trình thống nhất.
Ở các lĩnh vực quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường học, quản lý quá trình sư phạm, dạy học, quản lý hoạt động dạy học đã có nhiều công trình nghiên cứu, tuy nhiên hướng nghiên cứu theo định hướng phát triển năng lực học sinh là chưa nhiều, trong khi đây là một trong những yêu cầu cần thiết nhất của kết quả đào tạo theo định hướng đổi mới. Một số nghiên cứu ở nước ngoài Quản lý hoạt động dạy học thực chất là quản lý hoạt động học tập của học sinh và quản lý hoạt động dạy của giáo viên. Học sinh là chủ thể hoạt động học tập. Tinh thần, thái độ, động cơ, phương pháp học tập quyết định trực tiếp kết quả học tập của người học.
Các nhà nghiên cứu quản lý giáo dục Xô Viết trong những công trình nghiên cứu của mình đã cho rằng:“Kết quả toàn bộ hoạt động của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào công việc tổ chức đúng đắn và hợp lý công tác hoạt động dạy học và học tập”[15].Saxerđôtôp đi sâu nghiên cứu lãnh đạo công tác dạy học, giáo dục trong nhà trường và xem đây là khâu then chốt trong hoạt động quản lý của người làm công tác quản lý giáo dục[15]. John Dewey (1859-1925), nhà sư phạm người Mỹ nổi tiếng đầu thế kỷ XX đã đưa ra một phương hướng canh tân giáo dục, ông yêu cầu bổ sung vào vốn tri thức của học sinh những tri thức ngoài sách giáo khoa và lời giảng của giảng viên, đề cao hoạt động đa dạng của học sinh, đặc biệt là hoạt động thực 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Ông viết: Học sinh là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục, nói không phải là dạy, nói ít hơn, chú ý nhiều đến việc tổ chức hoạt động của học sinh. Vào thập niên 30 của thế kỷ XX, nhà giáo dục nổi tiếng người Nhật Bả n Tsunesaburo Makiguchi (1871-1944) đã nhấn mạnh: “Giáo viên không bao giờ học thay cho học viên mà học viên phải tự mình học lấy.
Nói khác đi, dù giáo viên có làm gì đi nữa thì mọi tri thức truyền thụ vẫn không có giá trị nếu họ không làm cho học sinh tự mình kiểm nghiệm và thực nghiệm những tri thức đó” [31]. Xukhômlinxki (1918-1970), Nhà sư phạm Xô Viết, Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học giáo dục Liên Xô, đã vận dụng lý luận, kinh nghiệm giáo dục xã hội chủ nghĩa vào hoàn cảnh cụ thể, đào tạo ra nhiều học trò, đóng góp nhiều lý luận, kinh nghiệm giáo dục thế hệ trẻ Xô Viết. Ông có nhiều kinh nghiệm giải quyết mối quan hệ giữa quá trình giáo dục và tự giáo dục, chủ động tác động của nhà sư phạm với chủ động, tự quản rèn luyện của học sinh và tập thể học sinh, giải quyết hợp lý giữa giáo dục tập thể và giáo dục cá nhân. Ông cũng có nhiều kinh nghiệm trong việc phối hợp các lực lượng giáo dục xã hội, tự nhiên vào quá trình giáo dục thế hệ trẻ.
Những tác phẩm giáo dục chủ yếu: “Giáo dục con người chân chính như thế nào”, “Giáo dục cộng sản đối với lao động” v. Vấn đề quản lý quá trình sư phạm, dạy học, quản lý hoạt động dạy học đã có nhiều công trình nghiên cứu trên các khía cạnh khác nhau. Một số nghiên cứu ở trong nước Đã có một số tác giả nghiên cứu về năng lực, hình thành năng lực. Khi nghiên cứu về NL của người thầy giáo, Phạm Minh Hạc cho rằng: sự thành công trong việc dạy học và giáo dục học sinh đòi hỏi người thầy giáo phải có thế giới quan tiên tiến, phẩm chất đạo đức cao quý, trình độ tri thức, kỹ năng kỹ xảo nghề nghiệp cao, trình độ văn hoá chung và xu hướng sư phạm.
Ngoài ra, còn cần một số đặc điểm tâm lý đặc trưng của nhân cách về mặt trí tuệ, 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tình cảm và ý chí. Các đặc điểm này có liên quan mật thiết với nhau, tạo thành một thể thống nhất, phù hợp với yêu cầu của hoạt động sư phạm, quyết định kết quả của hoạt động đó và chúng chính là các thành tố trong cấu trúc của NLSP. Ông khẳng định: NL là một tổ hợp đặc điểm tâm lý của một con người (còn gọi là tổ hợp thuộc tính tâm lý của một nhân cách), tổ hợp này vận hành theo mục đích, tạo ra kết quả của một hoạt động nào đấy. NL là những đặc điểm tâm lý cá biệt tạo thành điều kiện, quy định tốc độ, chiều sâu, cường độ của việc tác động của con người vào đối tượng lao động, nghĩa là quy định chất lượng của hoạt động.
Phạm Minh Hạc cũng chỉ ra mối quan hệ giữa NL và tri thức, KN, kỹ xảo. Theo ông: tri thức, KN, kỹ xảo là chất liệu để tạo thành NL tương ứng. Không có tri thức, KN, kỹ xảo thì không có NL, tuy chúng không đồng nhất với nhau. Nhóm tác giả Nguyễn Kế Hào, Nguyễn Hữu Dũng chia NLSP thành các nhóm: nhóm NL chẩn đoán, nhóm NL đáp ứng, nhóm NL đánh giá, nhóm NL thiết lập mối quan hệ với người khác, nhóm NL triển khai chương trình dạy học, nhóm NL đáp ứng trách nhiệm với xã hội.
Tuy nhiên, các tác giả này chưa chỉ ra mỗi nhóm NL kể trên gồm những NL cụ thể nào, cấu trúc của từng NL ra sao. Theo Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Xuân Thức thì năng lực là một thành tố cấu tạo nên nhân cách. NL là tổ hợp các thuộc tính tâm lý độc đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả. NL của mỗi người không ai giống ai, không bao giờ lặp lại cả về số lượng và chất lượng.
Các tác giả này đã chia ra 3 mức độ biểu hiện của năng lực là năng lực, tài năng và thiên tài. Các tác giả Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Xuân Thức và Đinh Văn Vang cho rằng giữa năng lực và tri thức, kỹ năng, kỹ xảo quan hệ chặt chẽ với nhau. Cùng với năng lực thì tri thức, KN, kỹ xảo thích hợp cũng rất cần thiết cho việc thực hiện có kết quả một hoạt động. Có tri 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thức, KN, kỹ xảo trong một lĩnh vực nào đó là điều kiện cần thiết để có NL trong lĩnh vực này.
Ngược lại, NL góp phần làm cho việc tiếp thu tri thức, hình thành KN, kỹ xảo tương ứng với lĩnh vực của NL được nhanh chóng và dễ dàng hơn. Trần Bá Hoành định nghĩa: NL người giáo viên là khả năng thực hiện các hoạt động dạy học/giáo dục với chất lượng cao. Kỹ năng có tính cụ thể, riêng lẻ. NL có tính tổng hợp, khái quát.
Kỹ năng và NL đều là sản phẩm của quá trình đào tạo, rèn luyện. Kỹ năng đạt đến mức thành thạo thì thành kỹ xảo. NL đạt đến mức cao được xem là tinh thông nghề nghiệp. Trần Bá Hoành khẳng định, lao động sư phạm mang tính sáng tạo.
Mỗi GV phải biết lựa chọn, vận dụng phối hợp các KN thích hợp để hoàn thành mỗi nhiệm vụ dạy học/giáo dục xác định trong hoàn cảnh xác định mới có thể thành công. Có thể xác định các NL của GV gồm: NL chẩn đoán nhu cầu và đặc điểm đối tượng DH/GD, năng lực thiết kế hoạt động DH/GD, năng lực tổ chức thực hiện kế hoạch DH/GD, năng lực giám sát, đánh giá kết quả các hoạt động DH/GD, năng lực giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn DH/GD. Ngày nay, thầy giáo có uy tín phải là người có đức và có tài, có năng lực hành động; uy tín của người thầy thì dù ở thời đại nào cũng là đòi hỏi cao nhất của của sự nghiệp “trồng người”. Chỉ có nhà giáo dục có uy tín mới thực sự xứng đáng với sự tin yêu, kính trọng của xã hội, của các thế hệ học trò.
Năng lực của giáo viên là điều kiện tiên quyết để phát triển năng lực học sinh. Qua nghiên cứu một số luận văn thạc sỹ trong nước chưa thấy tác giả nào đi sâu nghiên cứu về QLHĐHT của học sinh THPT. Từ thực tiễn giáo dục và tiếp xúc nhiều đối tượng học sinh THPT, người viết nhận thấy trong công tác quản lý, giáo dục và công tác giảng dạy của các nhà trường cũng còn nhiều tồn tại thiếu sót. Từ những tiếp thu lý luận về giáo dục, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, kết hợp với học tập kinh nghiệm quản lý của các đơn vị khác, chúng tôi quyết định thực hiện một số giải pháp về quản lý hoạt động học tập bước đầu đã có kết quả khả quan.
Vấn đề quản lý quá trình sư phạm, dạy học, 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quản lý hoạt động dạy học đã có nhiều luận văn và luận án khoa học giáo dục nghiên cứu. Các khái niệm cơ bản 1. Quản lý và chức năng của quản lý Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng (NXB Giáo dục, 1998) thuật ngữ quản lý được định nghĩa là: “Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan”. Các nhà nghiên cứu từ các góc độ tiếp cận khác nhau đã đưa ra các khái niệm khác nhau: Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được mục tiêu dự kiến”[26,tr.
Theo quan điểm điều khiển học: Quản lý là quá trình điều khiển của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý để đạt được mục tiêu đã định. Theo quan điểm kinh tế học: Quản lý là sự tính toán, sử dụng hợp lý các nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra.