CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Giáo dục có tầm quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, nên từ xưa đến nay luôn được dành sự quan tâm nghiên cứu của các nhà nghiên cứu. Ở phương Đông, từ thời cổ đại, Khổng Tử (551- 479, TCN) - nhà chính trị, triết gia nổi tiếng, nhà giáo dục lỗi lạc của Trung Hoa cổ đại, người đã khai sinh ra ngôi trường đầu tiên của nhân loại, người được xếp là một trong 10 vĩ nhân của thế giới cho rằng: Đất nước muốn phồn vinh, vững mạnh thì phải chú trọng đến 3 yếu tố: Thứ (làm cho dân đông), Phú (làm cho dân giàu), Giáo (làm cho dân có giáo dục, được học hành).
Từ thế kỷ XVI, cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, đã xuất hiện nhiều lý luận gia về mặt chính trị, giáo dục. Dạy học và quản lý dạy học đã được nhiều nhà giáo dục thực sự quan tâm. Trong đó, nổi bật nhất là Kômenski (1592-1670) - nhà tư tưởng nhân văn người Séc. Với tác phẩm “Lý luận dạy học vĩ đại” viết năm 1632, ông đã đưa ra lý thuyết dạy học kiểu mới với các nguyên tắc dạy học như nguyên tắc trực quan, nguyên tắc nhất quán, nguyên tắc đảm bảo tính khoa học và tính hệ thống… Qua đó thể hiện gián tiếp rằng kết quả dạy học có liên quan đến chất lượng người dạy trong việc vận dụng có hiệu quả các nguyên tắc dạy học.
Đến khoảng cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ thứ XX, khoa học giáo dục thực sự có sự biến đổi về chất. Những vấn đề chủ yếu trong các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin là các quy luật về “sự hình thành cá nhân con người”, về “tính quy định về kinh tế xã hội đối với giáo dục…” đã định hướng cho HĐGD, đặt ra các thách thức đối với giáo dục và QLGD. Ngay sau khi thoát khỏi đại chiến thế giới thứ hai, Nhật Bản một nước bại trận đã nhận thức rõ ràng điều kiện phát triển của nước mình không còn gì 6 z ngoài phát triển chính con người. Họ đã nhận thức được vai trò rất quan trọng của giáo dục đối với sự phát triển của đất nước.
Trong điều kiện thiếu thốn về tài nguyên, lại tổn thất nhiều bởi chiến tranh nhưng ngay từ những năm 1946 Nhật Bản đã đầu tư rất lớn cho giáo dục với 28% ngân sách và tiếp tục thêm mỗi năm 1% cho đến 32% ngân sách cho giáo dục vào năm 1950 và ổn định từ đó cho đến nay (chưa nước nào trên thế giới có thể làm được điều đó). Ngay cả Mỹ một nước phát triển nhất thế giới, để giữ vững vị trí hàng đầu trên trường Quốc tế, nguyên tổng thống Mỹ Bill Clinton đã ra thông điệp gửi quốc dân ngày 04/2/1997 kêu gọi: “Tôi đưa ra lời kêu gọi hành động để cho nước Mỹ bước vào thế kỷ XXI, hành động để duy trì nền kinh tế của chúng ta, hành động để tăng cường nền giáo dục, công nghệ khoa học…”. Ông cho rằng: “Giáo dục là vấn đề an ninh quốc gia tối quan trọng đối với tương lai của chúng ta”. Các nước phát triển trên thế giới đã đi lên từ cải tổ lại hệ thống giáo dục.
Họ chú trọng đến phát triển giáo dục vì thuộc tính của sản phẩm giáo dục mang thuộc tính hình thái ý thức xã hội và mang thuộc tính hàng hóa khi sản phẩm giáo dục gia nhập vào thị trường lao động. Ngay từ những năm 70 của thế kỷ XX họ đã chú ý đầu tư cho giáo dục thường xuyên (GDTX) tùy theo điều kiện và hoàn cảnh của mỗi nước. Qua điều tra nghiên cứu về sự tăng trưởng mạnh mẽ của các nước Tây Âu cho thấy rằng chính sự đầu tư vào giáo dục đã mang lại hiệu quả đó. Chính vì vậy các nhà kinh tế đã đầu tư “vào con người”, đầu tư “vào nguồn nhân lực”.
Ở các nước đang phát triển ngày càng thừa nhận vai trò của GDTX trong sự phát triển kinh tế, chính trị và xã hội của đất nước. Có đầu tư vào nguồn nhân lực vốn được coi là đầu tư cho phát triển thì các nước này mới mong thoát khỏi sự lệ thuộc về kinh tế, độc lập về chính trị. Giáo dục thường xuyên dần dần được coi là công cụ của chính sách quốc gia ở các nước đang phát triển. 7 z Tùy điều kiện, chính sách của từng quốc gia mà giáo dục thường xuyên được đón nhận những chính sách phù hợp.
Ví dụ: Nhật, Úc, Hàn Quốc… giáo dục thường xuyên chú trọng đến sự phát triển và hoàn thiện nhân cách, đến việc mở rộng hiểu biết và sử dụng thời gian nhàn rỗi, nâng cao nghề nghiệp, học nghề mới để tự nâng cao chất lượng cuộc sống của chính người học. Các nước đang phát, triển kinh tế còn nghèo, trình độ văn hóa thấp thì giáo dục thường xuyên trước hết là “cơ hội học tập thứ hai”, có chức năng thay thế hoặc nối tiếp giáo dục phổ thông chính quy cho những người chưa bao giờ đến trường hoặc bỏ học dở chừng. Giáo dục thường xuyên là cầu nối cho họ cập nhật cuộc sống theo con đường ngắn hơn. Ở trong nước Ở Việt Nam, giáo dục và quản lý giáo dục đã được coi trọng từ rất sớm.
Ngay từ thời nhà Lý, Văn miếu Quốc Tử Giám đã được xây dựng trở thành nơi đào tạo nhân tài cho đất nước và trong suốt thời kỳ phong kiến, nhiều người thầy nổi tiếng đã được bổ nhiệm làm Tế tửu, chịu trách nhiệm giảng dạy và quản lý trường đại học đầu tiên này. Sau khi đất nước giành được độc lập, một trong những mục tiêu quan trọng mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra là “diệt giặc dốt”, Bác đã thấy rõ được tầm quan trọng của giáo dục đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ nền độc lập của nước nhà. Từ đó đến nay, Đảng ta coi giáo dục là quốc sách hàng đầu. Chính vì vậy, kể từ sau Đổi mới (1986), Đảng ta tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của giáo dục trong chiến lược phát triển KT - XH của đất nước.
Trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta thể hiện quan điểm: “Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học” [6]. Muốn làm được điều này trước hết phải nâng cao chất lượng quản lý của lãnh đạo nhà trường, nhất là của Hiệu trưởng hay giám đốc đối với hoạt động dạy học trong các nhà trường. Đảng và Nhà nước đã đề cao vai trò giáo dục đối với sự phát triển của đất nước. Giáo dục được xác định là quốc sách hàng đầu, toàn xã hội phải 8 z chăm lo cho sự nghiệp giáo dục.
Để nâng cao chất lượng, phát triển sự nghiệp giáo dục thì một trong những yếu tố quan trọng có tính chất định hướng là vấn đề quản lý nâng cao chất lượng dạy học. Điều này, được Đảng ta tiếp tục khẳng định tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI: "Đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học ở các cấp học, bậc học” [8]. Việc nghiên cứu về lý luận dạy học và quản lý hoạt động dạy học phục vụ mục đích nâng cao chất lượng dạy học là một vấn đề dành được sự quan tâm chú ý của nhiều nhà nghiên cứu giáo dục. Bằng sự tổng hoà các tri thức của giáo dục học, tâm lý học, xã hội học, kinh tế học…, các tác giả đã thể hiện trong công trình của mình một cách khoa học về các khái niệm quản lý giáo dục, quản lý trường học, chức năng quản lý, nguyên tắc và phương pháp quản lý, thông tin và môi trường quản lý; đồng thời nêu lên một cách khái quát nhất về nghiệp vụ quản lý trường học.
Năm 2001, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam cho xuất bản tuyển tập “Giáo dục học - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của cố giáo sư Hà Thế Ngữ (1929 - 1990 ). Thông qua việc trình bày về đối tượng nghiên cứu và cấu trúc của khoa học quản lý giáo dục, khái niệm cơ bản của lý luận quản lý giáo dục, những nguyên tắc quản lý giáo dục và những quy luật giáo dục…, tác giả đã để lại nhiều tri thức về phương pháp luận nghiên cứu hiệu quả dạy học và quản lý giáo dục. Quản lý hoạt động dạy học là một vấn đề cấp thiết nhưng mới chỉ được nghiên cứu ở những cấp độ nhất định, đáp ứng phần nào nhu cầu của những người làm công tác quản lý giáo dục ở cấp cơ sở và vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu nhằm đưa ra những mô hình tổng thể cho việc quản lý chất lượng dạy học. Bên cạnh một số giáo trình của Trường ĐHSPI Hà Nội, Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục, Học viện quản lý giáo dục đã trình bày những vấn đề cơ bản của quản lý hoạt động dạy học.
Nhiều đề tài nghiên cứu về quản lý giáo dục nói chung và quản lý hoạt động dạy học nói riêng được các nhà khoa học quan tâm. Điển hình là các nhà khoa học: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Phúc Châu, 9 z Nguyễn Quốc Chí, Vũ Ngọc Hải, Trần Kiểm, Lưu Xuân Mới, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Hà Thế Truyền, Trần Thị Tuyết Oanh, Nguyễn Ngọc Quang, Phạm Viết Vượng, Nguyễn Thành Vinh… Hướng nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học cũng được các học viên Cao học quản lý giáo dục quan tâm. Có thể kể đến một số luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý giáo dục nghiên cứu về vấn đề này như: Nguyễn Thị Hảo, Nguyễn Văn Khôi, Nguyễn Văn Nam, Trần Văn Thanh, Vũ Trí Thức, Nguyễn Kim Phụng, … ở rất nhiều trường THPT trên các tỉnh thành trong cả nước. Luận văn của các tác giả trên đã nêu lên các biện pháp quản lý hoạt động dạy học của hiệu trưởng trường THPT, các trung tâm GDTX.
Đó là những công trình có giá trị về lý luận và thực tiễn, phù hợp với công việc của các tác giả trong thực hiện chức trách quản lý trường THPT, đồng thời cũng giúp cho CBQL các nhà trường nói chung và các hiệu trưởng trường THPT khác tham khảo để vận dụng trong công tác quản lý của mình. Tuy nhiên, đến nay chưa có những nghiên cứu cụ thể về vấn đề quản lý hoạt động dạy học ở Trung tâm GDTX tỉnh Điện Biên trong giai đoạn hiện nay.