Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THÔNG TIN VỀ HÌNH ẢNH NGƯỜI LÀM BÁO TRÊN BÁO CHÍ 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Khái niệm Báo chí Theo nghiên cứu hiện nay, có rất nhiều khái niệm khác nhau liên quan đến báo chí. Theo triết học Hy Lạp cổ đại: “Chữ báo chí xuất phát từ chữ information có nghĩa là thông tin, báo tin và được hiểu như việc tạo ra hình thái giúp cho sự hiểu biết của con người về thế giới xung quanh đang tồn tại bằng việc lấy hiện thực khách quan để phản ánh một cách liên tục, xuyên suốt trong quan hệ chặt chẽ giữa nhà bảo - tác phẩm - công chúng” [52, tr.
Một số quan điểm khác của các nhà nghiên cứu thì không định nghĩa báo chí riêng biệt mà gắn liền báo chí với truyền thông. Trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học của tác giả Hoàng Phê (2005), định nghĩa rằng báo chí truyền thông hiểu theo nghĩa trừu tượng nhất là “quá trình truyền dữ liệu giữa các đơn vị chức năng”. Tác giả Trần Hữu Quang trong cuốn Xã hội học truyền thông đại chúng lại khẳng định: “Báo chí truyền thông là một quá trình truyền đạt, tiếp nhận và trao đổi thông tin nhằm thiết lập các mối quan hệ giữa con người với con người với nhau”. Theo tác giả định nghĩa: “Truyền thông đại chúng là quả trình truyền 11 đạt thông tin một cách rộng rãi đến với công chúng trong xã hội thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng như phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử,.TS Tạ Ngọc Tấn: “Báo chí là hiện tượng đa nghĩa, gắn bó chặt chẽ với các thành tố của kiến trúc thượng tầng.
Hoạt động báo chí bao hàm trong đó sự vận hành phức tạp của một loại nghề nghiệp, quan hệ với nhau bằng quy luật vận động nội tại của cả hệ thống và bằng hiệu quả xã hội có tính mục đích” [55, tr. Nhìn chung, các tác giả ở trên bằng cách này hay cách khác, đã cố gắng đưa ra những nhận định chung nhất về báo chí, nhìn chung tất cả đều xem báo chí là một phương tiện diễn đạt, chia sẻ thông tin giữa các chủ thể khác nhau trong xã hội. Những định nghĩa được đưa ra là cả một sự cố gắng để khẳng định nội hàm cơ bản của báo chí. Theo tác giả: Báo chí là một trong những phương tiện truyền thông đại chúng, có nhiệm vụ đưa thông tin nhanh chóng đến sự kiện, vấn đề đang và sẽ diễn ra cho nhiều người tiếp cận thông tin hơn và là tiếng nói của nhân dân.
Tuy nhiên, ở một phạm vi nhất định thì đây chính là định nghĩa khá rộng vì chưa hiển thị hết các loại hình báo đang hiện diện trong xã hội hiện nay và các loại hình ấy được hiểu ra sao? diễn đạt như thế nào? Từ những định nghĩa nêu trên, tại Điều 4, Luật Báo chí 2016 khẳng định chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của báo chí như sau: “Báo chí ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện truyền thông tin thiết yếu đối với đời sống, xã hội; là cơ quan ngôn luận của chính Đảng, Cơ quan ngôn quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, là diễn đàn chính của nhân dân”. Khái niệm Quản lý Báo chí cũng là hình thức hoạt động xã hội, nên cũng cần phải có sự quản lý. Tuy nhiên trên thực tế chưa có khái niệm nào chuẩn và chính xác liên 12 quan đến quản lý đối với hoạt động báo chí. Theo tác giả nghiên cứu các tài liệu, thì có rất nhiều khái niệm khác nhau về quản lý.
Theo như giáo trình Khoa học quản lý đại cương của tác giả Trần Ngọc Liêu, (2009) đã định nghĩa rằng: “Quản lý là một hoạt động cần thiết cho tất cả các lĩnh vực của đời sống con người. Ở đâu có người tạo lập nên nhóm xã hội là ở đó cần đến quản lý, bất kể là nhóm chính thức hay nhóm không chính thức, là nhóm lớn hay nhóm nhỏ, là nhóm gia đình, bạn bè hay các đoàn thể, tổ chức xã hội, bất kể mục đích nội dung hoạt động của nhóm đó là gì” [53, trang 11].M Ivancevich trong khi nhấn mạnh tới hiệu quả của sự phối hợp hoạt động với nhiều người đã cho rằng: “Quản lý chính là một quá trình do một hoặc nhiều người thực hiện trong một thời gian nhằm phối hợp các hoạt động của người khác để đạt được kết quả mà một người hành động đơn lẻ không thể nào đạt được” [53, trang 12]. Tác giả Trương Thị Kiên nhận định: Trong bất kỳ tổ chức nào, từ quy mô gia đình đến cấp quốc gia, quốc tế, từ tổ chức chính trị xã hội đến an ninh, kinh tế, quốc phòng, giáo dục, y tế, thể thao. đều cần đến vai trò của quản lý.
Nếu không có quản lý, sẽ dẫn tới hoạt động tự phát, hỗn loạn, kém hiệu quả [25, trang 151]. Theo như giáo trình Khoa học quản lý đại cương của tác giả Phạm Ngọc Thanh (2019): “Quản lý là quá trình dẫn dắt có chủ đích, có hướng đích của chủ thể quản lý với đối tượng quản lý để đạt được mục tiêu trong quá trình quản lý”. Quản lý là sự tác động do con người thực hiện để tổ chức và điều chỉnh hành vi của những con người khác nhau nhằm gắn kết từng người, từng nhóm người độc 13 lập đối với nhau thành một hệ thống, đó còn là sự tác động lẫn nhau giữa các chủ thể trong quá trình quản lý để đạt được hiệu quả quản lý [54, trang 16]. Nhận định chung nhất thì:“Quản lý là điều khiển, chỉ đạo của cả hệ thống hay một quá trình theo quy luật, quy tắc nhất định nhằm làm cho hệ thống đó vận hành theo mục tiêu đã vạch sẵn”.
Hay có thể nói: “Quản lý là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến các đối tượng được quản lý; quản lý xuất hiện ở bất cứ nơi nào nếu nơi đó và lúc đó có hoạt động chung của con người”. Khái niệm Thông tin Khái niệm thông tin được bắt nguồn từ chữ “Latinh Information” nghĩa là thông báo, tóm tắt, giải thích. Theo Từ điển Tiếng Việt, Nxb Từ điển bách khoa (200): “Thông tin là truyền cho nhau để biết, điều được truyền đi cho biết, tin truyền đi” [38, tr. Theo tác giả Phạm Thành Hưng, “Từ góc độ nhận thức luận, thông tin là kết quả của sự phản ánh hiện thực khách quan, được biểu hiện bằng hệ thống các ngôn từ, ký hiệu, hình ảnh” [25, tr.
Trong cuốn “Cơ sở lý luận báo chí”, tác giả Nguyễn Văn Dững đã nêu những đặc điểm cơ bản của thông tin báo chí đó là: “Thông tin báo chí có tính thời sự, tính công khai, tính mục đích, tính định kỳ đều đặn, tính phong phú đa dạng, nhiều chiều, tính dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm theo và tính tương tác. Tất cả là những đặc điểm của thông tin báo chí mà những loại thông tin khác không thể có được” [13, tr. Giáo trình “Cơ sở lý luận báo chí” tác giả Tạ Ngọc Tấn (chủ biên), các tác giả nêu quan điểm: “Thông tin là một loại hình hoạt động để chuyển đi các nội dung thông báo, thông tin được dùng để chỉ chất lượng nội dung của thông báo nói chung. Thông tin liên quan trực tiếp đến tính hiệu quả của các phương tiện thông tin đại chúng, đến những đòi hỏi về phương pháp 14 hình thức sáng tạo của nhà báo, đến nguyên tắc về sự tác động qua lại giữa báo chí và công chúng.
Tất cả các vấn đề lý luận trong lĩnh vực báo chí đều liên quan đến thông tin. Như vậy, thông tin được hiểu theo hai nghĩa: thứ nhất, đó chính là nội dung thông tin; thứ hai, đó là phương tiện thông báo, báo tin. Thông tin là chức năng khởi nguồn, chức năng cơ bản nhất của báo chí, Bảo chỉ ra đời và phát triển trước hết là nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao về thông tin của con người và xã hội. Thực hiện chức năng thông tin, báo chỉ cung cấp cho công chứng về tất cả các vấn đề, sự kiện của đời sống xã hội, đáp ứng nhu cầu khám phá, tìm hiểu thế giới tự nhiên, xã hội.
Trong hoạt động báo chí, thông tin là chức năng của báo chí: chức năng thông tin. Đây chính là sự phản ánh các sự kiện, sự việc, vấn đề diễn ra trong đời sống xã hội dưới hình thức tác phẩm báo chí, là kết quả lao động của nhà báo nhằm đưa sự kiện, sự việc, vấn đề thời sự đến với công chúng… Một thông tin có giá trị phải là thông tin đầy đủ, có hệ thống qua việc lựa chọn đúng, có khoa học, có phương pháp nhằm phục vụ mục tiêu nhất định. Tức là giá trị tri thức của thông tin được chọn phản ánh trên báo chí, các phương tiện thông tin đại chúng phải gắn liền với ý thức xã hội đương thời. Điều này cho chúng ta thấy, nếu bản chất vai trò của thông tin báo chí phản ánh hiện thực xã hội không phải là đưa ra các sự kiện “một cách vô tư” như một thứ hàng hóa mà phải là những sự kiện được đánh giá, kết luận, được thừa nhận trên cơ sở hệ tư tưởng xã hội nhất định.
Khái niệm Quản lý thông tin Henri Fayol được mệnh danh là “Taylor của Châu Âu” cho rằng: “Quản lý chỉ là biện pháp và công cụ của tổ chức xã hội. Quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra.tác động đến con người” [24, tr. Như vậy, về thực chất, quan điểm trên chỉ ra, quản lý là sự tác động của 15 chủ thể vào khách thể quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu chung của tổ chức. Các tác giả Nguyễn Thị Ngọc Huyền, Đoàn Thị Thu Hà, Đỗ Thị Hải Hà cho rằng: “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát các nguồn lực và hoạt động của hệ thống xã hội nhằm đạt được mục đích của hệ thống với hiệu lực và hiệu quả cao một cách bền vững trong điều kiện môi trường luôn biến động” [24, tr.
Có thể hiểu, quản lý là thông tin “sự tác động của chủ thể vào khách thể quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu chung của tổ chức”; là một tiến trình bao gồm tất cả các khâu: lập kế hoạch, phân công, điều khiển và kiểm soát các nỗ lực của cá nhân, bộ phận và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khác của các tổ chức để đạt được mục tiêu đã đề ra [25, tr. Cốt lõi của khái niệm quản lý là trả lời câu hỏi: “Ai quản lý? (Chủ thể quản lý); Quản lý ai?