Quản lý thông điệp chính sách tam nông trên Báo Nhân Dân - Hà Quốc Việt

Phân tích vai trò của báo in trong phổ biến kiến thức khoa học công nghệ nông nghiệp ở nước ta, thực trạng cùng giải pháp nâng cao hiệu quả tuyên truyền.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

144
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về vai trò báo in trong phổ biến KHCN nông nghiệp

Báo in là kênh truyền thông truyền thống nhưng hiệu quả trong việc đưa kiến thức khoa học công nghệ (KHCN) nông nghiệp đến nông dân. Nó cung cấp thông tin chính xác, dễ tiếp cận và có tính bền vững. Các ấn phẩm như Báo Nhân Dân, Báo Nông nghiệp Việt Nam thường đăng tải nghiên cứu, kỹ thuật mới và chính sách hỗ trợ. Kết quả là nông dân có cơ sở để áp dụng tiến bộ, tăng năng suất. Báo in còn giúp giảm thiểu sự phân biệt thông tin giả mạo, đảm bảo nguồn kiến thức đáng tin cậy. Nó cũng tạo sự đồng thuận xã hội cho các chính sách phát triển nông nghiệp.

1.1. Đặc điểm của báo in trong truyền thông nông nghiệp

Báo in có tính chất trực tiếp và bền vững. Nó không phụ thuộc vào điện hoặc internet, phù hợp với vùng nông thôn có điều kiện cơ sở hạ tầng kém. Nội dung thường được biên tập kỹ lưỡng, phù hợp với trình độ của nông dân. Ngoài ra, báo in còn có khả năng tiếp cận rộng rãi, từ thành thị đến vùng sâu vùng xa. Điều này giúp đồng bộ hóa thông tin KHCN trên toàn quốc.

1.2. Tác động của báo in đến nhận thức nông dân

Nông dân tiếp cận báo in thường xuyên để cập nhật kiến thức mới. Ví dụ, thông tin về giống cây trồng mới, phương pháp canh tác tiết kiệm nước hoặc ứng dụng công nghệ 4.0 trong nông nghiệp được đăng tải thường xuyên. Điều này giúp họ thay đổi cách làm việc, từ thủ công sang hiện đại. Báo in cũng tạo ra sự tin tưởng vào các chính sách của Nhà nước, khuyến khích họ tham gia các chương trình hỗ trợ. Kết quả là năng suất và thu nhập tăng lên.

II. Các vấn đề hạn chế báo in trong phổ biến KHCN nông nghiệp

Mặc dù hiệu quả, báo in gặp nhiều khó khăn trong việc phổ biến KHCN nông nghiệp. Thứ nhất, tốc độ truyền thông chậm hơn so với các phương tiện số. Thông tin trên báo in thường bị lỗi thời khi đến tay người đọc. Thứ hai, khả năng tiếp cận còn hạn chế ở những vùng sâu, vùng xa. Thứ ba, nội dung đôi khi quá phức tạp, không phù hợp với trình độ của nông dân. Cuối cùng, sự cạnh tranh từ truyền thông số làm giảm sự quan tâm của độc giả trẻ. Những hạn chế này làm giảm hiệu quả của báo in trong việc truyền bá kiến thức mới.

2.1. Thiếu tính thời sự và cập nhật nhanh

Báo in thường mất từ 1 đến 2 tuần để in ấn và phân phối. Trong thời gian đó, thông tin KHCN mới có thể đã thay đổi. Ví dụ, một phương pháp canh tác mới được nghiên cứu trong tháng 1 nhưng đến tháng 2 mới được đăng tải. Điều này làm giảm tính thực tế của thông tin. Ngoài ra, báo in không thể cập nhật tức thời như các trang web hoặc ứng dụng di động.

2.2. Khả năng tiếp cận còn hạn chế ở nông thôn

Một số vùng nông thôn vẫn thiếu điểm bán báo hoặc có hệ thống phân phối không hiệu quả. Nông dân phải đi xa để mua báo, hoặc không có thời gian để đọc. Ngoài ra, báo in thường đắt hơn so với các phương tiện truyền thông số. Điều này làm giảm khả năng tiếp cận của nông dân có thu nhập thấp. Kết quả là thông tin KHCN không được truyền bá đồng đều trên toàn quốc.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả báo in trong phổ biến KHCN

Để khắc phục hạn chế, báo in cần kết hợp với công nghệ số và cải tiến nội dung. Thứ nhất, tăng cường in ấn nhanh và phân phối kịp thời. Thứ hai, sử dụng hình ảnh, biểu đồ và ngôn ngữ đơn giản để dễ hiểu. Thứ ba, hợp tác với các trang web và ứng dụng để cung cấp thông tin bổ sung. Cuối cùng, tổ chức các buổi đọc báo và trao đổi kiến thức tại địa phương. Những giải pháp này sẽ giúp báo in duy trì vai trò quan trọng trong việc phổ biến KHCN nông nghiệp.

3.1. Kết hợp báo in với truyền thông số

Báo in có thể in mã QR hoặc liên kết trực tiếp đến trang web hoặc ứng dụng. Khi quét mã QR, nông dân có thể xem video hướng dẫn, tải tài liệu kỹ thuật hoặc tham gia diễn đàn trao đổi. Ngoài ra, báo in có thể đăng tải link đến các bài viết chi tiết trên mạng. Điều này giúp bổ sung thông tin và tăng tính tương tác. Ví dụ, Báo Nhân Dân đã hợp tác với các trang web nông nghiệp để cung cấp thông tin bổ sung cho độc giả.

3.2. Cải tiến nội dung và phương pháp truyền thông

Nội dung trên báo in cần được viết bằng ngôn ngữ dễ hiểu, tránh thuật ngữ kỹ thuật phức tạp. Sử dụng hình ảnh minh họa, biểu đồ hoặc sơ đồ để giải thích các kỹ thuật mới. Ngoài ra, tổ chức các buổi đọc báo tại các xã, phường và huyện để giải thích chi tiết. Báo in cũng nên đăng tải những bài viết về thành tựu của nông dân áp dụng KHCN thành công, tạo động lực cho người khác. Điều này giúp tăng tính thực tế và hấp dẫn của thông tin.

IV. Kết luận và ứng dụng báo in trong phát triển nông nghiệp

Báo in vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc phổ biến KHCN nông nghiệp ở Việt Nam. Nó cung cấp thông tin đáng tin cậy, tiếp cận rộng rãi và có tính bền vững. Tuy nhiên, để duy trì hiệu quả, báo in cần cải tiến nội dung và kết hợp với công nghệ số. Kết quả là nông dân có thể tiếp cận kiến thức mới một cách hiệu quả, từ đó nâng cao năng suất và thu nhập. Báo in cũng đóng góp vào việc xây dựng nông thôn mới và phát triển nông nghiệp bền vững. Việc kết hợp báo in với truyền thông số sẽ tạo ra một hệ thống thông tin toàn diện và hiệu quả.

4.1. Tầm quan trọng của báo in trong nông nghiệp bền vững

Báo in giúp nông dân hiểu rõ các chính sách hỗ trợ và kỹ thuật canh tác mới. Điều này thúc đẩy sản xuất hiệu quả và giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Ví dụ, thông tin về nông nghiệp hữu cơ hoặc sử dụng năng lượng tái tạo được phổ biến rộng rãi. Báo in cũng tạo sự đồng thuận xã hội cho các chương trình phát triển nông thôn mới. Kết quả là nông nghiệp trở nên bền vững và thân thiện với môi trường.

4.2. Hướng phát triển báo in trong tương lai

Báo in cần tiếp tục cải tiến nội dung và phương pháp truyền thông. Sử dụng công nghệ in ấn nhanh và phân phối kịp thời để cung cấp thông tin mới nhất. Ngoài ra, hợp tác với các trang web và ứng dụng để tạo ra một hệ thống thông tin toàn diện. Báo in cũng nên tổ chức các hoạt động tương tác như buổi đọc báo hoặc diễn đàn trao đổi. Điều này sẽ giúp duy trì vai trò của báo in trong việc phổ biến KHCN nông nghiệp và thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/06/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung chính luận văn gồm có 3 chương, 80 trang tiêu chuẩn. 8 Chƣơng 1 QUẢN LÝ THÔNG ĐIỆP CHÍNH SÁCH VỀ NÔNG NGHIỆP, NÔNG DÂN, NÔNG THÔN TRÊN ẤN PHẨM BÁO CHÍ - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN 1. Các khái niệm liên quan: „truyền thông”, “ấn phẩm báo chí”, “thông điệp”, “quản lý”, “quản lý thông điệp” , “chính sách”, “chính sách tam nông”, “quản lý thông điệp chính sách tam nông” 1.1 Khái niệm “truyền thông” và“ấn phẩm báo chí” - Truyền thông là quá trình trao đổi, tương tác thông tin với nhau về các vấn đề của đời sống cá nhân/nhóm/xã hội, từ đó tăng vốn hiểu biết chung, hình thành hoặc thay đổi nhận thức, thái độ, chuyển đổi hành vi cá nhân/nhóm/xã hội. Truyền thông là sản phẩm của con người, là động lực kích thích sự phát triển của xã hội.

Theo Khoản 1 và Khoản 2 Điều 3 Luật Báo chí 2016 : - Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử. - Hoạt động báo chí là hoạt động sáng tạo tác phẩm báo chí, sản phẩm báo chí, sản phẩm thông tin có tính chất báo chí; cung cấp thông tin và phản hồi thông tin cho báo chí; cải chính thông tin trên báo chí; xuất bản, in, phát hành báo in; truyền dẫn báo điện tử và truyền dẫn, phát sóng báo nói, báo hình. - Ấn phẩm báo chí: Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, ấn phẩm là xuất bản phẩm do tòa soạn báo, tạp chí phát hành, bao gồm các loại như sách, báo, tạp chí (xuất bản định kì, nhiều kì, không định kì); ấn phẩm tờ rời như bản nhạc, bản đồ, tranh ảnh. Ấn phẩm là công cụ phổ biến của truyền thông.

Theo Điều 4, Luật xuất bản năm 2004 quy định: "Xuất bản phẩm là tác 9 phẩm, tài liệu về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn học, nghệ thuật được xuất bản bằng tiếng Việt, tiếng dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài và được thể hiện bằng hình ảnh, âm thanh trên các vật liệu, phương tiện kĩ thuật khác nhau. Trong các loại hình xuất bản phẩm, sách là bộ phận cơ bản nhất, phổ biến nhất và ra đời sớm nhất. Hiện nay, xuất bản phẩm còn tồn tại ở nhiều dạng khác: băng, đĩa, sách, báo điện tử." Như vậy, ấn phẩm báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử.2 Khái niệm “thông điệp” Trong truyền thông, thông điệp (một trong các yếu tố của truyền thông) được hiểu là một phát ngôn hoàn chỉnh cả về nội dung lẫn hình thức dành cho một nhóm đối tượng trong hoàn cảnh cụ thể nhằm hướng tới mục tiêu của chiến dịch truyền thông. Theo Giáo trình Truyền thông Marketing tích hợp - IMC, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân: - Thông điệp là những cụm từ, câu hoàn chỉnh, các dấu hiệu, biểu tượng hay phương tiện truyền tải ý nghĩa nội dung cụ thể từ nhóm người, tổ chức, cộng đồng này đến nhóm người, tổ chức, cộng đồng khác.

- Thông điệp là bất kì suy nghĩ, ý tưởng được diễn đạt ngắn gọn rõ ràng hay kín đáo, được thiết kế soạn thảo với hình thức thích hợp để truyền tải đến đối tượng bằng những phương tiện truyền thông khác nhau. - Thông điệp là sự phối hợp và tổng hợp các yếu tố như ngôn ngữ, hình ảnh, màu sắc, âm thanh nhằm truyền đạt ý đồ của chủ thể đến công chúng nhận tin. Dưới góc độ truyền thông marketing, thông điệp cần đáp ứng nhiệm vụ nhà quản trị đặt ra, và được định nghĩa như sau: 10 - Thông điệp truyền thông (tiếng Anh là Media message) là biểu hiện của những yếu tố mà nhà quản trị truyền thông muốn lưu lại trong tâm trí của đối tượng nhận tin, là những yếu tố cần thiết để ảnh hưởng, duy trì hay làm thay đổi nhận thức, cảm xúc và hành vi của đối tượng nhận tin. Hình thức thông điệp truyền thông là cách thông điệp được thiết kế (mã hóa) thông qua các yếu tố minh họa như âm thanh, màu sắc, hình ảnh.

nhằm thu hút đối tượng nhận tin qua nhiều kênh, phương tiện khác nhau. Tùy theo đặc điểm của từng nhóm đối tượng nhận tin, điều kiện kĩ thuật của kênh và phương tiện truyền thông, mà nhà thiết kế có thể thiết kế hình thức thông điệp thích hợp. Phản ứng tích cực của đối tượng nhận tin trong truyền thông không chỉ xuất phát từ việc họ xem hay nghe thông điệp, mà xuất phát từ việc thông điệp truyền thông đã diễn đạt như thế nào và diễn đạt điều gì. Quan trọng hơn là đối tượng nhận tin nhận thức được gì từ thông điệp đó.

Để thành công các nhà quản trị phải có kiến thức đầy đủ về thông điệp, hiểu biết nội dung và quy trình xây dựng thông điệp. Khái niệm “quản lý” Theo F.Taylo (1856-1915), người đề xuất thuyết “Quản lý khoa học” cho rằng: Quản lý là biết được điều bạn muốn người khác làm, và sau đó thấy được họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và r nhất. Hoạt động quản lý ở bất kỳ tổ chức nào cũng đều có các hoạt động cơ bản liên quan đến các chức năng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra trên cơ sở thu thập và xử lý thông tin. Quản lí là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lí (người quản lí) đến khách thể quản lí (người bị quản lí) trong tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.

Như vậy, có thể hiểu: Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những cộng sự trong cùng một tổ chức; quá trình phối hợp các nguồn lực nhằm đạt được những mục đích của tổ chức; Hoặc đơn giản hơn 11 nữa, quản lý là sự có trách nhiệm về một cái gì đó… Hiệu quả quản lý phụ thuộc vào các yếu tố: Chủ thể, khách thể, mục tiêu, phương pháp, công cụ quản lý 1. Khái niệm „quản lý thông điệp” Thông điệp báo chí là thông tin cần truyền đi đã được mã hoá dưới dạng ngôn ngữ báo chí. Quản lý thông điệp là sự tác động của chủ thể chiến dịch hay phương tiện truyền thông đến việc xây dựng, phổ biến các thông điệp truyền thông nhằm đạt đến hiệu quả cao nhất của mục tiêu truyền thông đặt ra.5 Khái niệm “Chính sách” Chính sách (hay còn gọi là chính sách công) là vấn đề quan trọng hàng đầu, ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia cũng như với từng địa phương cụ thể. Chính sách công được định nghĩa là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp, công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định.

Bản thân chính sách công rất phức tạp từ hệ thống đến sự tham gia của các chủ thể chính sách. Truyền thông chính sách/quản lý thông điệp chính sách là quá trình chia s , tương tác xã hội để thông tin chính sách từ chủ thể hoạch định, xây dựng, thực hiện và đánh giá chính sách đến các chủ thể chính sách khác nhằm tăng cường sự hiểu biết, nhận thức và thay đổi hành vi của các chủ thể chính sách để đạt mục tiêu chính sách. Truyền thông chính sách đóng vai trò quan trọng đối với mỗi khâu của chu trình chính sách công. Khâu hoạch định chính sách, truyền thông chính sách giúp xác định được đúng và trúng vấn đề chính sách, bảo đảm sự đồng thuận xã hội.

Trong khâu xây dựng chính sách, truyền thông chính sách giúp quá trình lựa chọn giải pháp công cụ chính sách phù hợp. Trong khâu thực hiện chính sách, truyền thông chính sách giúp việc giám sát chính sách công được thực hiện với sự tham gia của cả xã hội. Khâu đánh giá truyền thông 12 chính sách giúp làm rõ được kết quả chính sách, đồng thời tuyên truyền cho kết quả chính sách, giúp sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách. Khái niệm “chính sách tam nông” Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5-8-2008 của Hội nghị Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn là Nghị quyết mang tính lịch sử đầu tiên, đề cập đến toàn diện cả 3 lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trong đó khẳng định chính sách tam nông bao gồm việc coi nông dân là chủ thể, xây dựng nông thôn mới là căn bản, phát triển toàn diện nông nghiệp là then chốt.

Giải quyết tốt vấn đề tam nông chính là nhiệm vụ chính trị quan trọng của toàn Đảng, toàn dân, không chỉ đến năm 2020 mà còn cho suốt chặng đường phát triển của đất nước. Đặc biệt, thông điệp nổi bật của Nghị quyết này là khẳng định: - Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước. - Các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch là căn bản; phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ