Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG VỐN NSNN CẤP CHO HOẠT ĐỘNG ĐẢNG TỈNH ĐỒNG THÁP 1. Quản lý sử dụng vốn ngân sách nhà nước (NSNN) 1. Khái niệm ngân sách nhà nước (NSNN) Thuật ngữ “ngân sách” xuất xứ từ các nước Tây Âu và Bắc Mỹ trong thời kỳ công nghiệp hóa vào thế kỷ XVII và XIX, có nghĩa là chiếc túi của nhà vua chứa tiền để sử dụng cho những khoản chi tiêu công cộng. Thời bấy giờ, các khoản chi tiêu cho công cộng và các khoản chi tiêu cho hoàng gia được sử dụng chung nguồn ngân sách này mà không có sự phân biệt rõ ràng.
Khi Nhà nước tư sản ra đời, nền kinh tế phát triển, giai cấp tư sản yêu cầu phải tách biệt rõ ràng các khoản chi tiêu phục vụ hoạt động của nhà nước và các khoản chi tiêu của những cá nhân làm việc trong bộ máy nhà nước từ nguồn ngân sách chung. Vì vậy, thuật ngữ NSNN được hình thành và sử dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia. Cho đến nay, có nhiều quan niệm về NSNN do các cách tiếp cận khác nhau. Trong thực tiễn, ngân sách thường để chỉ tổng số thu và chi của một đơn vị trong một thời gian nhất định.
Một bảng tính toán các chi phí để thực hiện một kế hoạch, hoặc một chương trình cho một mục đích nhất định của một chủ thể nào đó. Nếu chủ thể đó là Nhà nước thì được gọi là NSNN. Theo quan điểm của các nước hiện nay, NSNN hay ngân sách Chính phủ là tài liệu Chính phủ trình bày dự toán các khoản thu và chi tiêu của Chính phủ cho một năm tài chính, thường được thông qua bởi cơ quan lập pháp. NSNN cũng được gọi là báo cáo tài chính hàng năm của đất nước.
Tài liệu này ước tính các khoản thu của 1 Chính phủ và chi tiêu Chính phủ trong năm tài chính tiếp theo. Ở Việt Nam, Luật NSNN (2015) định nghĩa “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”. Như vậy, có thể hiểu NSNN là một kế hoạch thu - chi của Nhà nước cho từng năm ngân sách và nội dung kinh tế của NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh giữa nhà nước và các chủ thể khác trong nền kinh tế thông qua quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở luật định. Nguồn: Quốc hội (năm 2015), Luật NSNN 1.
Quản lý ngân sách nhà nước (NSNN) Hệ thống NSNN Việt Nam được tổ chức và quản lý thống nhất theo nguyên tắc thống nhất, tập trung dân chủ. NSNN Việt Nam được tổ chức theo hai cấp: ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, trong đó ngân sách địa phương gồm ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện và ngân sách cấp xã (Luật NSNN, năm 2015). Ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, tập trung các nguồn thu lớn và các nhiệm vụ chi quan trọng. Ngân sách cấp dưới được trợ cấp từ ngân sách cấp trên, chịu sự chi phối của ngân sách cấp trên nhằm đảm bảo cân đối của ngân sách cấp mình.
Mỗi cấp chính quyền (tỉnh, huyện, xã) được quyền chi phối ngân sách cấp mình. Quản lý NSNN ở Việt Nam được phân cấp như sau: Chính phủ giao nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm cho chính quyền địa phương trong hoạt động quản lý ngân sách gồm thẩm quyền ban hành các chế độ, chính sách; phân cấp nguồn thu và phân cấp nhiệm vụ chi; trách nhiệm của các cấp trong chu trình ngân sách. Để thực hiện mục tiêu chung về chính sách phát triển, đảm bảo công bằng và phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phương. Trong trường hợp có sự mất cân đối vùng miền hay thực hiện mục tiêu của trung ương thì ngân sách trung ương sẽ bổ sung cho ngân sách địa phương.
Khoản bổ sung này là nguồn thu của ngân sách cấp dưới. Trường hợp cơ quan cấp trên ủy quyền cho cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi thì phải chuyển kinh phí cho ngân sách cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó. Để việc phân cấp quản lý NSNN đạt hiệu quả, cần tuân thủ các nguyên tắc: phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã 2 hội, quốc phòng và an ninh của quốc gia và năng lực quản lý của các cấp; đảm bảo vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương và tính độc lập của ngân sách địa phương trong hệ thống NSNN thống nhất, đồng thời thực hiện nguyên tắc công bằng trong phân cấp NSNN. Nguồn: Quốc hội (năm 2015), Luật NSNN 1.
Quản lý sử dụng vốn ngân sách nhà nước là: Quản lý thu, chi Ngân sách nhà nước là quá trình Nhà nước vận dụng các quy luật khách quan sử dụng hệ thống các phương pháp, công cụ quản lý tác động đến các hoạt động chi Ngân sách nhà nước phục vụ tốt nhất việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước và thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Quản lý sử dụng vốn ngân sách cấp cho hoạt động Đảng 1. Khái niệm: quản lý sử dụng vốn ngân sách cấp cho hoạt động Đảng là việc quản lý thu, chi ngân sách nhà nước cấp cho hoạt động của Đảng cộng sản Việt Nam. Đơn vị dự toán cấp I: là đơn vị trực tiếp nhận dự toán ngân sách hàng năm do Thủ tướng Chính phủ hoặc Ủy ban nhân dân giao.
Đơn vị dự toán cấp I thực hiện phân bổ, giao dự toán ngân sách cho đơn vị cấp dưới trực thuộc; chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc tổ chức, thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách của đơn vị mình và công tác kế toán và quyết toán ngân sách của các đơn vị dự toán cấp dưới trực thuộc theo quy định. Nguồn: Quốc hội (2015), Luật NSNN Đơn vị dự toán cấp II: là đơn vị cấp dưới đơn vị dự toán cấp I, được đơn vị dự toán cấp I giao dự toán và phân bổ dự toán được giao cho đơn vị dự toán cấp III (trường hợp được ủy quyền của đơn vị dự toán cấp I), chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách của đơn vị mình và công tác kế toán và quyết toán của các đơn vị dự toán cấp dưới theo quy định. Đơn vị dự toán cấp III: là đơn vị trực tiếp sử dụng ngân sách, được đơn vị dự toán cấp I hoặc cấp II giao dự toán ngân sách, có trách nhiệm tổ chức, thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách của đơn vị mình và đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc (nếu có) theo quy định. Nguồn: Quốc hội (2015), Luật NSNN 1.
Quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra 3 Quản lý ngân sách theo KQĐR là một hoạt động quản lý ngân sách dựa vào cơ sở tiếp cận là thông tin đầu ra để phân bổ và đánh giá nguồn lực tài chính nhằm đạt được những mục tiêu chiến lược phát triển. Phân bổ NSNN theo KQĐR là phương thức phân bổ ngân sách dựa vào cơ sở tiếp cận những thông tin đầu ra để phân phối và đánh giá sử dụng nguồn lực tài chính nhằm hướng vào đạt được những mục tiêu chiến lược phát triển (Sử Đình Thành, 2005). Cơ sở pháp lý Thông tư liên tịch số 216/2004/TTLT-BTCQT-BTC ngày 29 tháng 3 năm 2004 của Ban Tài chính - Quản trị Trung ương (nay là Văn phòng Trung ương) và Bộ Tài chính; Thông tư số 1539/2017/TT-BTC ngày 29 tháng 12 năm 2017 của Bộ Tài chính quy định chi tiết về quản lý sử dụng ngân sách nhà nước đối với các cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam. Chế độ kế toán thực hiện theo Thông tư 107/2017/TT-BTC của Bộ Tài chính và Quyết định số 2233-QĐ/VPTW của Văn phòng Trung ương Đảng; Quy định số 09-QĐ/VPTW ngày 22 tháng 9 năm 2017 của Văn phòng Trung ương Đảng; Luật ngân sách Nhà nước; Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí,… và các văn bản hướng dẫn thực hiện.
Công khai tài chính thực hiện theo Quyết định số 1494-QĐ/BTCQTTW ngày 28 tháng 11 năm 2004 của Ban Tài chính - Quản trị Trung ương (nay là Văn phòng Trung ương Đảng), Thông tư số 343/2016/TT-BTC ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Bộ Tài chính, Quyết đinh số 3869-QĐ/VPTW ngày 21 tháng 6 năm 2019 của Văn phòng Trung ương Đảng. Theo quy định về tài chính Đảng tại Thông tư liên tịch số 216/2004/TTLT- BTCQT-BTC ngày 29/3/2004 Hướng dẫn thực hiện cơ chế quản lý tài chính Đảng (Ban Tài chính quản trị - Bộ Tài chính, 2004) có quy định: Tài chính, tài sản của Đảng Cộng sản Việt Nam do Đảng thống nhất quản lý, điều hành theo nguyên tắc tập trung dân chủ kết hợp với phân cấp quản lý, đảm bảo 4 tính độc lập tự chủ trong công tác quản lý ngân sách nhằm phục vụ tốt nhiệm vụ của từng cấp ủy và của toàn Đảng. Trung ương Đảng quy định thống nhất nguyên tắc, chế độ quản lý tài chính, tài sản của Đảng. Các cấp ủy Đảng chịu trách nhiệm quản lý tài chính, tài sản của cấp mình và chịu sự chỉ đạo hướng dẫn của cấp ủy cấp trên trực tiếp.
Các tỉnh ủy, thành ủy thực hiện chức năng cơ quan tài chính của cấp ủy các cấp thừa ủy quyền cấp ủy làm chủ sở hữu tài sản của Đảng. NSNN các cấp có trách nhiệm đảm bảo cân đối kinh phí cho hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam: Ngân sách địa phương đảm bảo kinh phí cho hoạt động của các cấp ủy và các cơ quan của cấp ủy ở địa phương theo phân cấp của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh. Sở Tài chính phối hợp với Văn phòng Tỉnh ủy giúp UBND và Ban Thường vụ tỉnh, thành ủy xây dựng phương án phân cấp ngân sách cho các huyện ủy, quận ủy, thành ủy trực thuộc tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định theo một trong hai phương án sau đây: + Huyện ủy, quận ủy, thị ủy, thành ủy trực thuộc tỉnh là đơn vị dự toán thuộc ngân sách đảng cấp tỉnh. + Huyện ủy, quận ủy, thị ủy, thành ủy trực thuộc tỉnh là đơn vị dự toán thuộc ngân sách cấp huyện.
Các nguồn kinh phí khác (chi đầu tư xây dựng cơ bản, nghiên cứu khoa học, chương trình mục tiêu quốc gia, …) thực hiện theo quy định của Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn. Niên độ thực hiện: ngân sách đảng theo niên độ NSNN (Nguồn: Ban Tài chính quản trị - Bộ Tài chính, 2004) 1.