phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về công tác giáo viên chủ nhiệm lớp và việc quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường Trung học phổ thông Chƣơng 2: Thực trạng về công tác giáo viên chủ nhiệm lớp và việc quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở các trường Trung học phổ thông tỉnh Yên Bái Chƣơng 3: Biện pháp quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp của Hiệu trưởng trường Trung học phổ thông ở tỉnh Yên Bái trong giai đoạn hiện nay 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM LỚP VÀ VIỆC QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM LỚP Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Tại Chỉ thị số 40/CT-TW ngày 15.2004 Ban bí thư Trung ương Đảng nhấn mạnh: “Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu. đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [2]. Muốn phát triển kinh tế xã hội thì trước hết phải xây dựng và thực hiện tốt chiến lược phát triển toàn diện con người.
Nguồn lực con người là sự kết hợp hài hoà giữa trí lực, thể lực, nhân cách và kinh nghiệm sống. Vì thế trong nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực luôn đặt ra mục tiêu phát triển con người. Có con người phát triển đầy đủ và toàn diện thì mới có nhân lực chất lượng cao. Ở nước ta hiện nay, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, đời sống vật chất của nhân dân ta được cải thiện và ngày càng được nâng cao, nhân cách con người đã có những biến đổi, bên cạnh mặt tích cực, cũng đã xuất hiện một số mặt tiêu cực, có ảnh hưởng đến công tác giáo dục trong nhà trường.
Tình trạng suy thoái về đạo đức của một bộ phận học sinh, ảnh hưởng của lối sống thực dụng, chỉ biết hưởng thụ, không biết cống hiến, chán học, bỏ học, mục đích động cơ học tập chưa rõ ràng, các tệ nạn xã hội len lỏi vào nhà trường đó là những vấn đề nổi cộm trong những năm gần đây. Vì vậy nhà trường, gia đình, xã hội cần có sự liên kết chặt chẽ trong việc giáo dục học sinh; trong nhà trường vai trò chính là đội ngũ giáo viên và đặc biệt là GVCNL. Khi đề cập đến công tác GVCNL đã có nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích, có thể kể đến các công trình tiêu biểu như: 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Cải tiến việc quản lý đội ngũ GVCNL của Hiệu trưởng trường phổ thông (Đề tài cấp trường) - của Lưu Xuân Mới (Chủ nhiệm đề tài). Trường Cán bộ quản lý Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội 1998.
- Giáo dục học (Chương XVI. Người GVCNL) - của Phạm Viết Vượng. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2004 - Phương pháp công tác của người giáo viên chủ nhiệm ở trường Trung học phổ thông - của Hà Nhật Thăng (Chủ biên). NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2004.
- Công tác GVCNL ở trường Phổ thông - của Hà Nhật Thăng (Chủ biên). NXB Giáo dục, Hà nội 2006. Một số không nhiều bài báo, tư liệu khác viết về công tác GVCNL như: - Rèn luyện một số kĩ năng làm công tác GVCNL cho sinh viên Cao đẳng sư phạm - của Vũ Đình Mạnh. Tạp chí Giáo dục số 126 (11/2005).
- Một số biện pháp rèn luyện kĩ năng làm công tác GVCNL cho sinh viên Cao đẳng sư phạm - của Vũ Đình Mạnh. Tạp chí Giáo dục số 135 (Kỳ 1-4/2006). Hầu hết các tài liệu, công trình nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức khái quát chung công tác GVCNL, chưa đi sâu và đề xuất các biện pháp quản lý cụ thể thực hiện công tác GVCNL ở trường THPT. Ở tỉnh Yên Bái, vấn đề quản lý công tác GVCNL trong trường THPT thường được Hiệu trưởng các trường THPT quan tâm, song nó chỉ tồn tại ở dạng những kinh nghiệm trên báo cáo sơ kết, tổng kết năm học của các nhà trường.
Như vậy, cho đến nay, theo những tài liệu mà chúng tôi có được vẫn còn thiếu những công trình đề cập đến các biện pháp quản lý công tác GVCNL ở trường THPT một cách đầy đủ và hệ thống. Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi muốn đi sâu hơn để xác định cơ sở lý luận, khảo sát thực tiễn và trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp quản lý công tác GVCNL góp phần nâng cao chất lượng giáo 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dục toàn diện trong các trường THPT trên địa bàn tỉnh Yên Bái đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. Những khái niệm cơ bản của đề tài 1. Giáo dục, giáo dục toàn diện 1.
Giáo dục Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử – xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hoá dân tộc của nhân loại được kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó mà xã hội loài người không ngừng tiến lên. Các nhà nghiên cứu giáo dục đã đưa ra nhiều định nghĩa về giáo dục: Theo “Từ điển Giáo dục” (NXB Từ điển bách khoa): “Giáo dục là hoạt động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách, phù hợp với mục đích , mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội” [43, tr. Theo Đặng Vũ Hoạt và Nguyễn Hữu Dũng: “Giáo dục là một nhu cầu tất yếu của xã hội và sự xuất hiện hiện tượng giáo dục là một tất yếu lịch sử. Nó diễn ra theo cơ chế những thế hệ đi trước truyền lại cho những thế hệ đi sau những kinh nghiệm tích luỹ được và thế hệ sau tiếp thu nó làm phong phú thêm vốn kinh nghiệm đó.
Chính nhờ cơ chế này những giá trị vật chất và những giá trị tinh thần của loài người không những không bị mai một đi mà điều quan trọng là lại được phát triển không ngừng”[23, tr. Theo Nguyễn Sinh Huy và Nguyễn Văn Lê: + Theo nghĩa rộng “Giáo dục là sự hình thành có mục đích và tổ chức những sức mạnh thể chất và tinh thần của con người, hình thành thế 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giới quan, bộ mặt đạo đức và thị hiếu thẩm mỹ cho con người; với nghĩa rộng nhất khái niệm này bao hàm cả giáo dưỡng, dạy học và tất cả những yếu tố tạo nên những nét tính cách và phẩm hạnh của con người đáp ứng các yêu cầu kinh tế - xã hội” [24, tr. + Theo nghĩa hẹp: “Giáo dục bao gồm quá trình hoạt động nhằm tạo ra cơ sở khoa học của thế giới quan, lý tưởng đạo đức, thái độ thẩm mỹ đối với hiện thực của con người kể cả việc phát triển nâng cao thể lực. Quá trình này xem như một bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể”[24, tr.
Theo Phạm Viết Vượng: “ Về bản chất, giáo dục là quá trình truyền đạt và tiếp thu những kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ loài người. Về hoạt động, giáo dục là quá trình tác động đến các đối tượng giáo dục để hình thành cho họ những phẩm chất nhân cách. Về mặt phạm vi, khái niệm giáo dục bao hàm nhiều cấp độ khác nhau: + Ở cấp độ rộng nhất, giáo dục có thể hiểu là quá trình hình thành nhân cách dưới ảnh hưởng của những tác động chủ quan và khách quan, có ý thức và không có ý thức của cuộc sống, hoàn cảnh xã hội đối với các cá nhân. Đó là quá trình xã hội hoá con người.
+ Ở cấp độ thứ hai, giáo dục có thể hiểu là hoạt động có mục đích của xã hội, với nhiều lực lượng giáo dục, tác động có kế hoạch, có hệ thống đến con người để hình thành những phẩm chất nhân cách (Giáo dục xã hội). + Ở cấp độ thứ ba, giáo dục được hiểu là quá trình tác động có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của các nhà sư phạm trong nhà trường tới học sinh nhằm giúp cho họ nhận thức, phát triển trí tuệ và hình thành những phẩm chất nhân cách. Đó là quá trình sư phạm. Ở cấp độ này giáo dục bao gồm: Quá trình dạy học và quá trình giáo dục theo nghĩa hẹp.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Ở cấp độ thứ tư, giáo dục được hiểu là quá trình bồi dưỡng để hình thành những phẩm chất đạo đức cụ thể, thông qua việc tổ chức cuộc sống, hoạt động và giao lưu. Ở cấp độ này khái niệm giáo dục ngang hàng với khái niệm dạy học (Giáo dục theo nghĩa hẹp)” [44, tr. Từ các định nghĩa trên, ta thấy giáo dục là một khái niệm cơ bản thường được dùng trong khoa học và thực tiễn đời sống xã hội. Ta có thể hiểu một cách chung nhất: Giáo dục là hoạt động chuyển giao hệ thống tri thức cho thế hệ sau nhằm phát triển và hoàn thiện nhân cách cá nhân – xã hội, đảm bảo sự tồn tại và phát triển xã hội.
Khái niệm giáo dục còn được phân nhỏ về ngoại diên và nội hàm thành các khái niệm: Giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình, giáo dục xã hội; về nội dung giáo dục thì có: Giáo dục ý thức công dân, giáo dục văn hoá- thẩm mỹ, giáo dục lao động, hướng nghiệp, giáo dục thể chất – quân sự, giáo dục môi trường, giáo dục dân số, giáo dục giới tính, giáo dục phòng chống ma tuý… Giáo dục được coi là khởi nguồn của sự phát triển. Không có giáo dục thì không có bất cứ sự phát triển nào đối với con người, đối với kinh tế, văn hoá. Chính nhờ có giáo dục mà các di sản tư tưởng và kỹ thuật của các thế hệ trước được truyền lại cho thế hệ sau. Các di sản này được tích luỹ ngày càng phong phú làm cho xã hội phát triển.