CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DẠY HỌC MÔN GDQP - AN TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm quản lý, quản lý giáo dục 1. Khái niệm Quản lý Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất và lâu đời của con người.
Nó phát triển không ngừng theo sự phát triển của xã hội. Quản lý cho tất cả các lĩnh vực của đời sống con người và là một nhân tố của sự phát triển xã hội. Lý luận về quản lý vì vậy được hình thành và phát triển qua các thời kỳ và trong lý 7 luận về chính trị, kinh tế xã hội. Tuy nhiên, chỉ mới gần đây người ta mới chú ý đến “chất khoa học” của quá trình quản lý và dần hình thành các “lý thuyết quản lý”.
Có nhiều tác giả trong nước và nước ngoài nghiên cứu về khoa học quản lý và đưa ra các quan niệm, có thể tổng hợp một số quan niệm như sau: Theo từ điển Tiếng Việt, quản lý là “tổ chức, điều khiển, hoạt động của một đơn vị, một cơ quan”, là “trông coi, gìn giữ và theo dõi công việc”. Nghĩa Hán Việt của “quản” là trông coi, gìn giữ theo những yêu cầu nhất định, duy trì sự vật ở trạng thái ổn định; “lý” là sửa sang, sắp đặt công việc, đổi mới, đưa hệ thống đó có thể phát triển. Trong “quản” phải có “lý”, trong “lý” phải có “quản” thì toàn hệ mới đạt thế cân bằng động, tồn tại và phát triển phù hợp trong mối tương tác với các yếu tố bên trong và bên ngoài. Quan điểm của tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lí) đến khách thể quản lý (người bị quản lí) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt được mục đích của tổ chức” [9, tr 8].
Dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau, tuy nhiên căn cứ vào những điểm chung về bản chất của quản lý có thể hiểu: Quản lý là cách thức tổ chức - điều khiển (cách thức tác động) của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu đã xác định. Quản lý giáo dục Khái niệm Quản lý giáo dục (QLGD) có thể được hiểu ở nhiều cấp độ khác nhau tùy theo sự xác định đối tượng QL. Quản lý GD là QL mọi hoạt động GD trong xã hội. Như vậy khái niệm QL giáo dục sẽ được hiểu theo nghĩa rộng nhất.
Tuy nhiên, hiện nay có nhiều khái niệm và định nghĩa về QLGD khác nhau. Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và các cộng sự: “Trong thực tế, Quản lý giáo dục là quá trình tác động có kế hoạch, có tổ chức của cơ quan quản lý giáo dục 8 các cấp tới các thành tố của quá trình dạy học - giáo dục nhằm làm cho hệ thống giáo dục vận hành có hiệu quả và đạt tới mục tiêu giáo dục nhà nước đề ra. Trên cơ sở những quan niệm và khái niệm trên, có thể khái quát như sau: Quản lý GD là hệ thống những tác động có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp độ khác nhau đến tất cả các khâu, các bộ phận của hệ thống nhằm đảm bảo cho các cơ quan trong hệ thống giáo dục vận hành tối ưu, đảm bảo sự phát triển mở rộng cả mặt số lượng cũng như chất lượng để đạt mục tiêu GD. Như vậy, bản chất của QLGD là quá trình tác động có ý thức của chủ thể QL tới khách thể QL và các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động GD nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục.
Khái niệm dạy học và quản lý dạy học 1. Khái niệm dạy học Dạy học là một bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể, là con đường quan trọng nhất để thực hiện mục đích giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ, đồng thời là phương thức để đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội. Dạy học bao gồm hoạt động dạy và học của thầy và trò trong nhà trường, với mục tiêu là giúp HS nắm vững hệ thống kiến thức khoa học, hình thành hệ thống kĩ năng, kĩ xảo và thái độ tích cực đối với học tập và cuộc sống. Khái niệm quản lý dạy học Quản lý dạy học là quản lý quá trình truyền thụ tri thức của đội ngũ GV và quá trình lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của HS và quản lý các điều kiện vật chất, kỹ thuật, phương tiện phục vụ hoạt động dạy học.
Quản lý hoạt động dạy học của thầy thể hiện ở việc như: Quản lý thực hiện chương trình, quản lý hồ sơ, bài soạn, giảng bài, dự giờ thăm lớp, rút kinh nghiệm, 9 đánh giá kết quả dạy học thông qua việc chấm, chữa bài, cho điểm theo các văn bản hướng dẫn của Bộ giáo dục và đào tạo. Quản lý hoạt động học của trò là tạo ra ý thức tốt trong học tập để lĩnh hội kiến thức, hình thành kĩ năng, kỹ xảo trên cơ sở đó xây dựng nền nếp học tập và phương pháp học tập đúng đắn nhằm đạt chất lượng và hiệu quả cao nhất. Giáo dục quốc phòng và an ninh Giáo dục quốc phòng - an ninh toàn dân, trong đó giáo dục quốc phòng - an ninh cho sinh viên là một nội dung quan trọng của nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân, là một bộ phận của nền giáo dục quốc dân. Nghị định 15/2001/NĐ- CP ngày 01 tháng 05 năm 2001 của Chính phủ về giáo dục quốc phòng - an ninh nêu rõ: Giáo dục quốc phòng - an ninh thuộc nội dung của nền giáo dục quốc gia, là nội dung cơ bản trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, có ý nghĩa quan trọng trong chiến lược đào tạo con người mới xã hội chủ nghĩa.
Giáo dục quốc phòng - an ninh là môn học chính khóa trong các trường, lớp đào tạo bậc đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề, trung học phổ thông thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, các trường hành chính và đoàn thể. [13] Dạy học môn GDQP-AN được xác định là một bộ phận, một nội dung quan trọng của quá trình dạy học trong hệ thống giáo dục. Do đó, để đảm bảo chất lượng dạy học môn học này, cần thiết phải nắm vững và tuân thủ theo những quy luật, nguyên tắc, quy tắc sư phạm, đồng thời phải tính đến những đặc điểm của giáo dục quốc phòng - an ninh để vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo có hiệu quả. Môn học GDQP-AN có quan hệ chặt chẽ với các môn học khác như: toán, lý, hóa, giáo dục chính trị, giáo dục thể chất, lịch sử,… đặc biệt các nội dung cơ bản về công tác quốc phòng, về các quân binh chủng có liên quan mật thiết với nhiều chuyên ngành đào tạo của các trường đại học, cao đẳng trung học chuyên nghiệp.
Dạy học môn GDQP&AN trong trường Đại học, Cao đẳng 1. Vị trí, vai trò của môn GDQP&AN trong trường Đại học, Cao đẳng Điều 30 Luật Nghĩa vụ quân sự năm 1960 quy định “Đối với sinh viên, học sinh các trường đại học, các trường trung cấp chuyên nghiệp thì việc huấn luyện quân 10 sự thuộc chương trình giáo dục do Chính phủ quy định”[8]. Từ đó việc học tập quân sự (Huấn luyện quân sự phổ thông) trước đây, nay là giáo dục quốc phòng - an ninh cho học sinh, sinh viên trong những năm đất nước có chiến tranh đã góp phần bồi dưỡng kiến thức quân sự, rút ngắn thời gian huấn luyện chiến sĩ mới, đáp ứng yêu cầu của chiến tranh chống Mỹ cứu nước và chiến tranh bảo vệ biên giới Tổ quốc. Khi đất nước hoà bình, lớp lớp thanh niên, sinh viên tình nguyện đến những nơi khó khăn, gian khổ cùng sát vai với bộ đội và nhân dân thực hiện các nhiệm vụ chính trị - xã hội của đất nước.
Trong hội nhập nền kinh tế thế giới, đội ngũ trí thức trẻ đang làm chủ khoa học kỹ thuật luôn ý thức nhiệm vụ xây dựng đất nước phải gắn liền với bảo vệ Tổ quốc. Ngoài việc nâng cao dân trí về quốc phòng, giáo dục quốc phòng - an ninh góp phần giáo dục chính trị, tư tưởng sâu sắc cho học sinh, sinh viên trong phòng chống chiến lược "Diễn biến hòa bình” bạo loạn lật đổ, xây dựng ý thức trách nhiệm của mỗi công dân đối với Tổ quốc; giáo dục lòng tự hào về truyền thống vẻ vang của dân tộc. Qua mỗi giai đoạn cách mạng và sự phát triển của giáo dục đào tạo, chương trình giáo dục quốc phòng - an ninh cho học sinh, sinh viên đã được đổi mới cả nội dung và hình thức giảng dạy. Năm 1991, chuyển đổi chương trình từ huấn luyện quân sự phổ thông sang môn học giáo dục quốc phòng đã có sự thay đổi cơ bản nội dung cho phù hợp với giáo dục thời bình, theo hướng tăng cường tri thức về quốc phòng - quân sự, giảm bớt thực hành kỹ năng.
Đặc biệt, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII ban hành Chỉ thị số 62-CT/TW ngày 12 tháng 02 năm 2001 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục quốc phòng, an ninh trong tình hình mới, cho thấy tầm quan trọng, vị trí, yêu cầu giáo dục quốc phòng - an ninh toàn dân, trong đó có nhiệm vụ giáo dục quốc phòng - an ninh cho học sinh, sinh viên. Thực hiện Chỉ thị số 12-CT/TW ngày 03 tháng 5 năm 2007 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục quốc phòng - an ninh trong tình hình mới và Nghị định số 116/2007/NĐ-CP ngày 10 tháng 7 năm 2007 của Chính phủ về giáo dục quốc phòng - an ninh, môn học Giáo dục quốc phòng được chính thức đổi 11 tên thành môn học Giáo dục quốc phòng - an ninh (kiến thức giáo dục an ninh được lồng ghép trong giáo dục quốc phòng). Các trường đại học, cao đẳng tự bảo đảm giảng dạy các nội dung giáo dục quốc phòng - an ninh tại trường hoặc liên kết giảng dạy theo phần luồng của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Vị trí, mục tiêu môn học Giáo dục quốc phòng và an ninh được quy định tại Điều 2 Thông tư liên tịch 18/2015/TTLT-BGDĐT-BLĐTBXH quy định tổ chức dạy, học và đánh giá kết quả học tập môn học Giáo dục quốc phòng và an ninh trong cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo - Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội ban hành như sau: 1.