Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ MẪU GIÁO Ở TRƯỜNG MẦM NON 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu trên thế giới KNS là một thành phần quan trọng của nhân cách con người trong XH hiện đại, có ý nghĩa lớn đối với chất lượng cuộc sống cá nhân cũng như sự phát triển bền vững của XH. Vì vậy, có rất nhiều công trình nghiên cứu về KNS và GDKNS cho con người nói chung và trẻ em nói riêng trong nhà trường và ở cộng đồng, XH.
Vào cuối những năm 1960, thuật ngữ GDKNS được những nhà tâm lí học thực hành đưa ra và coi đó như một khả năng XH rất quan trọng trong việc phát triển cá nhân. Bắt đầu từ năm 1979, nhà khoa học hành vi Gilbert Botvin đã nghiên cứu một chương trình GDKNS cho giới trẻ từ 17-19 tuổi. Thông qua các module tương tác, chương trình đào tạo này nhằm giúp xây dựng cho người học có khả năng từ chối những lời mời, rủ rê, đề nghị sử dụng chất gây nghiện bằng cách nâng cao sự tự khẳng định bản thân, KN ra quyết định và tư duy phê phán [24]. UNESCO trong nghiên cứu về xác định mục tiêu, chương trình và hình thức, PP GDKNS đã cho rằng thuật ngữ “giáo dục kỹ năng sống” xuất hiện trước tiên trong chương trình “giáo dục những giá trị sống” với 12 giá trị cơ bản cần GD cho thế hệ trẻ [1].
Trong đó cuốn sách “Những giá trị sống và kỹ năng sống dành cho trẻ từ 3-7 tuổi” [13] (Diane Tillman, Nhà xuất bản Trẻ, 2009) tác giả đã khái quát những giá trị sống và KNS cho trẻ gồm những KNS và 12 bài học giá trị về các chủ đề Hòa bình, Tôn trọng, Yêu thương, Khoan dung, Trung thực, Khiêm tốn, Hợp tác, Hạnh phúc, Trách nhiệm, Giản dị, Tự do và Đòan kết. Các chủ đề được trình bày dễ hiểu với những phân tích, diễn giải rõ ràng theo trình tự logic: mục đích của chủ đề, những hoạt động được tổ chức và cuối cùng là phần thảo luận. Ngoài ra, phần cuối e 7 của cuốn sách còn có 10 phụ lục về một số chủ đề; mỗi phụ lục là một câu chuyện, một ví dụ minh họa, một trò chơi trắc nghiệm theo các thẻ tình huống sát thực với chủ đề được đề cập hoặc các bài tập thư giãn, tập trung…Thông qua các tình huống, các chủ đề để GDKNS cho trẻ 3 đến 7 tuổi. Chương trình hành động Dakar về GD cho mọi người (Senegal-2000) đã đặt ra trách nhiệm cho mỗi quốc gia phải đảm bảo cho người học được tiếp cận với chương trình GDKNS phù hợp và KNS cần được coi như một nội dung của chất lượng GD.
Trong GD hiện đại, KNS của người học là một tiếu chí về chất lượng GD. Do đó, khi đánh giá chất lượng GD phải tính đến những tiêu chí đánh giá KNS của người học. Nhiều nước trên thế giới đã đưa nội dung GDKNS vào dạy cho học sinh trong các trường phổ thông dưới nhiều hình thức khác nhau. Theo UNICEF, hiện nay có hơn 150 quốc gia trên thế giới quan tâm đến việc đưa KNS vào nhà trường, trong đó có 143 nước đã đưa KNS vào chương trình chính khóa ở tiểu học và trung học.
Việc GDKNS cho học sinh ở các nước được thực hiện theo nhiều hình thức: KNS là một môn học riêng biệt, KNS được tích hợp vào một vài môn học chính, KNS được tích hợp vào nhiều hoặc tất cả các môn học trong chương trình. Tuy nhiên, chỉ có một số ít nước đưa KNS thành một môn học riêng biệt như Campuchia, Malawi, … Còn lại đa số các nước để tránh sự quá tải trong nhà trường, thường tích hợp KNS vào nội dung các môn học, chủ yếu là các môn khoa học XH như GD đạo đức, GD sức khỏe, GD giới tính, GD quyền con người, GD môi trường, … như ở Nhật, Hàn Quốc, Singapore,… Có thể thấy rằng, GDKNS đã được nhiều quốc gia trên thế giới đưa vào chương trình giảng dạy cho học sinh các trường phổ thông dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng chưa có nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng KNS của trẻ em lứa tuổi MN hay việc QL hoạt động GD KNS trong các trường MN cũng chưa được nghiên cứu và đánh giá cụ thể. Những nghiên cứu ở Việt Nam Thuật ngữ KNS bắt đầu xuất hiện trong các nhà trường phổ thông Việt Nam từ những năm 1995-1996, thông qua Dự án“GDKNS để bảo vệ sức khỏe và phòng e 8 chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” do UNICEF phối hợp với Bộ GD và ĐT cùng Hội Chữ thập đỏ Việt Nam thực hiện. Ở Việt Nam, đề tài KNS và HĐGDKNS đã được rất nhiều nhà khoa học, nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau.
Tác giả Nguyễn Thanh Bình là một trong những người có nhiều bài báo, đề tài nghiên cứu khoa học, giáo trình nghiên cứu về KNS và GDKNS. Trong cuốn “Giáo trình giáo dục kỹ năng sống”, tác giả đề cập đến sự cần thiết phải đưa nội dung GDKNS vào đào tạo sư phạm. Đồng thời, tác giả đã trình bày khung lí thuyết về GDKNS và PP dạy học tích cực và PP đánh giá theo cách tiếp cận năng lực khi tổ chức dạy - học chuyên đề này. Với phương thức đó người học không chỉ hiểu biết về KNS và GDKNS mà còn vận dụng được cách tiếp cận 4 trụ cột của GD thế kỉ XXI và có thể thiết kế được các chủ đề GDKNS phù hợp với các nhóm đối tượng khác nhau để việc triển khai GDKNS có thể lan tỏa rộng hơn [1].
Riêng đối với GDKNS cho trẻ MN, trong “Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi”, Bộ GD&ÐT (2009) đã tích hợp KNS trong các năng lực thuộc lĩnh vực phát triển tình cảm và quan hệ XH nhằm rèn luyện các kỹ năng cho trẻ MG 5-6 tuổi chuẩn bị vào lớp 1, như: Trẻ thể hiện sự nhận thức về bản thân, tin tưởng vào khả năng của bản thân, biết cảm nhận và thể hiện cảm xúc, có mối quan hệ tích cực với bạn bè và người lớn, hợp tác với bạn bè và mọi người xung quanh, có các hành vi thích hợp trong ứng xử XH, thể hiện sự tôn trọng người khác [10]. Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Ðinh Thị Kim Thoa, Phan Thị Thảo Hương (2010), cuốn “Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho trẻ mầm non”, Nhà xuất bản Ðại học Quốc gia Hà Nội [20]. Cuốn sách đã khái quát đặc điểm tâm sinh lý của trẻ MN, những vấn đề chung về GD giá trị sống và GDKNS cho trẻ MN; đồng thời, cuốn sách cũng đưa ra một số trò chơi để GD giá trị sống và KNS cho trẻ MN. Sách: “Hướng dẫn và rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ mầm non”, của Bộ GD&ÐT (2012), do Nhà xuất bản Ðại học quốc gia Hà Nội phát hành [6].
Cuốn sách đã trình bày nội dung, hình thức rèn luyện KNS cho trẻ MN để GV, phụ huynh học sinh tham khảo và có thể áp dụng vào quá trình GD và rèn luyện KNS cho trẻ MN. e 9 Đến năm 2014 Bộ GD&ĐT ra “Quy định quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống và hoạt động giáo dục ngoài giờ chính khóa” (ban hành kèm theo Thông tư số 04/2014/TT-BGD&ĐT ngày 28/02/2014) [8]; Công văn số 463/BGDĐT- GDTX ngày 28/1/2015 của Bộ GD&ĐT về việc hướng dẫn triển khai thực hiện GDKNS tại các cơ sở GDMN, GD phổ thông và GD thường xuyên [9]. Tác giả Nguyễn Thị Thu Giang (2016) thực hiện đề tài luận vãn thạc sĩ “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi tại các trường mầm non huyện Thanh Trì, Hà Nội”, Học viện Quản lý giáo dục. Tác giả Huỳnh Thị Thảo (2017) thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ “Quản lí hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường tiểu thị xã An Khuê, tỉnh Gia Lai”, Trường Đại học Quy Nhơn.
Tác giả Đỗ Thị Thiên Hương (2018) thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ “Quản lí hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường tiểu học quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh”, Trường Đại học Sài Gòn. Nhìn chung, GDKNS cho con người nói chung và cho học sinh nói riêng đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới và VN quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Các công trình nghiên cứu đã phần góp phần hệ thống hóa được và hoàn thiện cơ sở lý luận về GDKNS và QLGDKNS trong nhà trường; ngoài ra cũng đã cũng đã cung cấp những kinh nghiệm thực tiễn quý ở những địa bàn nghiên cứu khác nhau. Đây chính là nguồn tài liệu tham khảo quý để tác giả thực hiện đề tài nghiên cứu của mình.
Tuy nhiên, tại thành phố Quy Nhơn đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu và cập nhật về QL HĐGDKNS cho trẻ MG ở các trường MN. Do đó, tác giả chọn đề tài này, vừa có sự kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có, vừa có tính mới trong việc áp dụng tại các trường MN thành phố Quy Nhơn, Bình Định. Các khái niệm cơ bản 1. Kỹ năng sống Theo Tự điển Tiếng Việt, KNS là tập hợp các hành vi tích cực và khả năng thích nghi cho phép mỗi cá nhân đối phó hiệu quả với các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày; nói cách khác là khả năng tâm lý XH.
Đó là tập hợp các KN e 10 mà con người tiếp thu qua GD hoặc trải nghiệm trực tiếp được dùng để xử lý các vấn đề thường gặp trong đời sống [29]. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa: “Khả năng có hành vi thích ứng và tích cực giúp cá nhân giải quyết có hiệu quả với những đòi hỏi và thách thức cuộc sống hàng ngày”. Ðồng thời, coi KNS là những KN mang tính tâm lý XH và KN về giao tiếp được vận dụng trong những tình huống hàng ngày để tương tác một cách hiệu quả với người khác và giải quyết có hiệu quả những vấn đề, những tình huống của cuộc sống hàng ngày [12]. Theo UNICEF thì KNS là tập hợp rất nhiều KN tâm lý XH và giao tiếp cá nhân giúp cho con người đưa ra những quyết định có cơ sở, giao tiếp một cách có hiệu quả, phát triển các KN tự xử lý và QL bản thân nhằm giúp họ có một cuộc sống lành mạnh, hiệu quả.
Từ KNS có thể thể hiện thành những hành động cá nhân và những hành động đó sẽ tác động đến hành động của người khác cũng như dẫn đến những hành động nhằm thay đổi môi trường xung quanh, giúp trở nên lành mạnh.