Luận văn thạc sĩ quản lí hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tại trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở huyện thanh sơn tỉnh phú thọ trong tình hình hiện nay

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu quản lí hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tại trường phổ thông dân tộc nội trú trung học, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2020

167
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh

Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tại trường phổ thông dân tộc nội trú là một nhiệm vụ quan trọng trong bối cảnh hiện nay. Việc này không chỉ giúp học sinh phát triển toàn diện mà còn góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tại các trường dân tộc nội trú. Chương trình giáo dục kỹ năng sống (GDKNS) được thiết kế nhằm trang bị cho học sinh những kỹ năng cần thiết để hòa nhập vào xã hội và phát triển bản thân.

1.1. Khái niệm về giáo dục kỹ năng sống

Giáo dục kỹ năng sống là quá trình giúp học sinh phát triển các kỹ năng cần thiết để đối phó với những thách thức trong cuộc sống. Điều này bao gồm việc rèn luyện kỹ năng giao tiếp, giải quyết vấn đề, và quản lý cảm xúc.

1.2. Vai trò của giáo dục kỹ năng sống trong trường phổ thông dân tộc nội trú

Giáo dục kỹ năng sống đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách và phát triển toàn diện cho học sinh. Đặc biệt, tại các trường phổ thông dân tộc nội trú, việc này giúp học sinh tự tin hơn trong giao tiếp và hòa nhập với cộng đồng.

II. Thách thức trong quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh

Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tại trường phổ thông dân tộc nội trú gặp phải nhiều thách thức. Những khó khăn này có thể đến từ việc thiếu nguồn lực, sự chưa đồng bộ trong chương trình giảng dạy, và sự khác biệt về văn hóa giữa các dân tộc.

2.1. Thiếu nguồn lực và cơ sở vật chất

Nhiều trường phổ thông dân tộc nội trú vẫn còn thiếu thốn về cơ sở vật chất và trang thiết bị cần thiết cho việc giảng dạy kỹ năng sống. Điều này ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục và khả năng tiếp cận của học sinh.

2.2. Sự khác biệt văn hóa và ngôn ngữ

Học sinh đến từ các dân tộc khác nhau có thể gặp khó khăn trong việc hiểu và áp dụng các kỹ năng sống do sự khác biệt về văn hóa và ngôn ngữ. Điều này đòi hỏi giáo viên phải có phương pháp giảng dạy linh hoạt và phù hợp.

III. Phương pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống hiệu quả

Để nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, cần áp dụng các phương pháp quản lý khoa học và thực tiễn. Việc này bao gồm việc xây dựng kế hoạch giáo dục rõ ràng, tổ chức các hoạt động ngoại khóa và tăng cường sự tham gia của cộng đồng.

3.1. Xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng sống

Kế hoạch giáo dục kỹ năng sống cần được xây dựng dựa trên nhu cầu thực tế của học sinh và đặc điểm của từng dân tộc. Điều này giúp đảm bảo tính khả thi và hiệu quả trong quá trình giảng dạy.

3.2. Tổ chức các hoạt động ngoại khóa

Các hoạt động ngoại khóa là cơ hội tuyệt vời để học sinh thực hành và áp dụng các kỹ năng sống. Những hoạt động này không chỉ giúp học sinh phát triển kỹ năng mà còn tạo ra môi trường học tập tích cực.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu về quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tại trường phổ thông dân tộc nội trú đã chỉ ra nhiều kết quả tích cực. Việc áp dụng các phương pháp quản lý hiệu quả đã giúp nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển kỹ năng sống cho học sinh.

4.1. Kết quả từ các hoạt động giáo dục kỹ năng sống

Các hoạt động giáo dục kỹ năng sống đã giúp học sinh cải thiện khả năng giao tiếp, tự tin hơn trong cuộc sống hàng ngày và có khả năng giải quyết vấn đề tốt hơn.

4.2. Đánh giá hiệu quả quản lý giáo dục kỹ năng sống

Đánh giá hiệu quả quản lý giáo dục kỹ năng sống cho thấy sự tiến bộ rõ rệt trong nhận thức và hành vi của học sinh. Điều này chứng tỏ rằng việc quản lý giáo dục kỹ năng sống là cần thiết và hiệu quả.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai

Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tại trường phổ thông dân tộc nội trú là một nhiệm vụ quan trọng và cần thiết. Để nâng cao chất lượng giáo dục, cần tiếp tục nghiên cứu và áp dụng các phương pháp quản lý hiệu quả, đồng thời tăng cường sự tham gia của cộng đồng.

5.1. Đề xuất các biện pháp cải tiến

Cần đề xuất các biện pháp cải tiến trong quản lý giáo dục kỹ năng sống, bao gồm việc tăng cường đào tạo giáo viên và cải thiện cơ sở vật chất.

5.2. Tương lai của giáo dục kỹ năng sống

Tương lai của giáo dục kỹ năng sống tại trường phổ thông dân tộc nội trú sẽ phụ thuộc vào sự đầu tư và quan tâm của các cấp quản lý giáo dục, nhằm đảm bảo rằng học sinh được trang bị đầy đủ kỹ năng cần thiết cho cuộc sống.

24/07/2025
Luận văn thạc sĩ quản lí hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tại trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở huyện thanh sơn tỉnh phú thọ trong tình hình hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu và kết luận luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng với 12 tiết: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý HĐGD kĩ năng sống cho HS tại trƣờng PTDTNT THCS trong tình hình hiện nay. Chƣơng 2: Thực trạng GD kĩ năng sống và quản lý hoạt động GDKNS cho HS tại Trƣờng Phổ thông DTNT THCS huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ trong tình hình hiện nay. Chƣơng 3: Một số biện pháp quản lý HĐGD kĩ năng sống cho học sinh tại Trƣờng Phổ thông Dân tộc Nội trú THCS trú huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ trong tình hình hiện nay. 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TẠI TRƢỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ TRUNG HỌC CƠ SỞ TRONG TÌNH HÌNH HIÊN NAY 1.

Tổng quan nghiên cứu về giáo dục kỹ năng sống 1. Các nghiên cứu trên thế giới Thuật ngữ “giáo dục kĩ năng sống” hiện nay ngày càng phổ biến và đƣợc sử dụng khá rộng rãi. Trên thế giới, KNS và GDKNS là những thuật ngữ đã xuất hiện từ rất sớm, cùng với đó là những chƣơng trình GD KNS đã đƣợc triển khai rộng khắp và có hiệu quả ở nhiều quốc gia. Những năm 90 của thế kỉ XX, theo các công trình nghiên cứu khoa học ở nƣớc ngoài, thuật ngữ “Kĩ năng sống” đã xuất hiện trong một số chƣơng trình giáo dục đặc biệt của UNICEF.

Thời kỳ này, những nghiên cứu về kĩ năng sống của các nhà nghiên cứu là muốn thống nhất đƣợc một quan niệm chung về kĩ năng sống và đƣa ra đƣợc một bảng danh mục các kĩ năng sống cần thiết cho các lứa tuổi khác nhau với mục đích góp phần giáo dục thế hệ trẻ trên toàn thế giới. Tuy nhiên, một số các công trình nghiên cứu về KNS ở thời kỳ này quan niệm về KNS theo nghĩa hẹp, có nghĩa là đồng nhất KNS với các kĩ năng xã hội khác. Theo tổ chức UNICEF, mọi hoạt động giáo dục dựa trên những kĩ năng sống cơ bản là sự thay đổi trong hành vi của con ngƣời hay một sự phát triển hành vi nhằm tạo sự cân bằng giữa kiến thức, thái độ và hành vi của con ngƣời. Hay có thể hiểu một cách ngắn gọn nhất đó là khả năng chuyển đổi kiến thức của chính ngƣời đƣợc giáo dục (phải làm gì?) và thái độ của họ (mình đang nghĩ gì, cảm xúc của mình là nhƣ thế nào, hay tin tƣởng vào giá trị nào đƣợc tiếp nhận) thành hành động của chính bản thân mình (làm gì và s làm nhƣ thế nào?).

“Đƣợc sự tài trợ của tổ chức UNICEF, UNESCO, UNFPA, các chƣơng trình giáo dục kĩ năng sống đã đƣợc triển khai rộng khắp ở châu Mỹ Latinh, khu vực Nam Phi, khu vực châu Á. Năm 1996, khái niệm KNS xuất hiện ở các nƣớc Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, trong một số chƣơng trình giáo dục của UNICEF 5 với “Chƣơng trình GD KNS để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trƣờng”. Từ đó, ở mỗi quốc gia trên thế giới, dựa trên cách tiếp cận KNS trong từng lĩnh vực cụ thể, từng quốc gia đã triển khai đƣa KNS vào giáo dục ở trong và ngoài nhà trƣờng”[23]. Ở Trung Quốc, trong chủ trƣơng về quản lý giáo dục cũng đã quán triệt thực hiện giáo dục kĩ năng sống, giá trị sống ở bậc tiểu học và trung học cơ sở.

Họ coi giáo dục các kĩ năng sống, giá trị sống trong nền giáo dục quốc dân là giáo dục những giá trị truyền thống của dân tộc trong hệ thống lễ giáo với mọi ngƣời trong nƣớc và ngoài nƣớc; hệ giá trị cần giáo dục cho tuổi trẻ chính là các giá trị phù hợp với sự phát triển của thời đại [24]. Ở Nhật Bản: Chủ trƣơng của giáo dục tập trung vào năm giá trị, năm kĩ năng cơ bản với khẩu hiệu không ngừng hoàn thiện bản thân “Mỗi ngày tiến lên một bước nhỏ” Ở Mỹ: Trong chiến lƣợc phát triển giáo dục, giáo dục kĩ năng sống ở trƣờng phổ thông gồm có 12 nội dung. Hội đồng giáo dục nƣớc Mỹ đã soạn ra hệ thống kĩ năng sống, giá trị sống gồm 26 giá trị và đề ra một kế hoạch triển khai rất cụ thể, từ xây dựng chƣơng trình giáo dục, tài liệu giảng dạy, các hoạt động về GDKNS… và đặc biệt chú trọng công tác đào tạo các nhà giáo có đủ khả năng thự hiện giáo dục giá trị sống, kĩ năng sống cho học sinh đáp ứng yêu cầu đề ra, đồng thời đầu tƣ ngân sách và tổ chức kiểm tra, đánh giá hiệu quả của hoạt động GDKNS…[24]. Indonesia: Năm 1997, giáo dục kĩ năng sống đƣợc thông qua chƣơng trình giáo dục kĩ năng sống cho cuộc sống khỏe mạnh, thực hiện ở cấp tiểu học.

Đến cuối năm 2002, giáo dục kĩ năng sống cho phòng chống HIV/ AIDS đƣợc triển khai thực hiện ở các bậc trung học. Chính phủ Indonesia đã đƣa kĩ năng sống vào chƣơng trình của giáo dục cơ bản, với nội dung kĩ năng sống cho cuộc sống khỏe mạnh, KNS cho phòng chống HIV/ AIDS [23]. Malaysia: Trong định hƣớng giáo dục đạo đức, kĩ năng sống cho học sinh có 16 chuẩn mực cần giáo dục. Trong 16 chuẩn mực nhấn mạnh các kĩ năng biết tự lực, tự giải quyết các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống, kĩ năng hợp tác, biết giải quyết hợp l phải, có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội… [24].

6 Bƣớc vào thế kỷ XXI, dƣới sự phát triển mạnh m của thời đại công nghệ số, việc số hóa toàn cầu đang ngày càng đƣợc đẩy mạnh. Bởi vậy, cuộc sống cũng đè nặng lên con ngƣời những áp lực nhất định. Chúng ta dần thiếu đi những hiểu biết, kĩ năng cần có để đối diện với những rủi ro mà cuộc sống đƣa đến. Một trong những thế hệ đang bị ảnh hƣởng nghiêm trọng bởi sự tiến công của cách mạng 4.0 đó là giới trẻ, họ thiếu hụt những KNS cần thiết, bối rối khi đối diện với khó khăn.

Vì vậy, giáo dục KNS đã và đang trở thành nhiệm vụ cần và cấp thiết của mỗi quốc gia, và môi trƣờng thuận lợi nhất để rèn luyện KNS chính là môi trƣờng giáo dục. Các nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam vấn đề giáo dục KNS cho thế hệ trẻ đã thu hút nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu, trong đó ngành khoa học giáo dục giữ một trọng trách vô cùng to lớn về nghiên cứu lý luận và triển khai thực tiễn giáo dục KNS cho học sinh, sinh viên phù hợp với thực tiễn giáo dục hiện đại. “Với nhiều năm làm công tác nghiên cứu về khoa học giáo dục, PGS.TS Hà Nhật Thăng đã xuất bản cuốn sách: “Giáo dục hệ thống giá trị đạo đức nhân văn” năm 1998 và đã tái bản nhiều lần. Trong đó, trang bị cho các em học sinh sinh viên nắm vững những hệ thống giá trị giáo dục cốt lõi, đó là cơ sở cơ bản của nhân cách con ngƣời, rèn luyện để thế hệ trẻ đang lớn lên có những hành vi ứng xử tƣơng ứng với hệ thống giá trị đạo đức nhân văn cốt lõi của dân tộc, phù hợp với yêu cầu của xã hội phát triển và của thời đại.

Những kết quả nghiên cứu đó đã đƣợc ứng dụng vào việc xây dựng chƣơng trình giáo dục KNS cho học sinh và đƣợc đƣa vào trong sách giáo khoa ở cấp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông của môn Giáo dục công dân, thực hiện từ năm 2000 trên phạm vi toàn quốc”[43]. “Tác giả Nguyễn Thanh Bình và cộng sự của mình đã triển khai nghiên cứu khoa học tổng quan về quá trình nhận thức về KNS ở Việt Nam và đƣa ra những đề xuất yêu cầu tiếp cận KNS trong giáo dục và GD KNS ở nhà trƣờng phổ thông trong hệ thống giáo dục quốc dân, đồng thời tìm hiểu thực trạng vấn đề GD KNS trong thực tiễn giáo dục cho đối tƣợng ngƣời học từ trẻ mầm non đến ngƣời lớn thông qua các chƣơng trình giáo dục chính quy và giáo dục thƣờng xuyên trong giáo dục ở Việt Nam. Từ những cơ sở nghiên cứu nhƣ vậy, tác giả đã xác định 7 những thách thức và định hƣớng nhu cầu GD KNS trong tƣơng lai ở Việt Nam để đẩy mạnh GD KNS và đối chiếu với các nội dung trong mục tiêu 3 và mục tiêu 6 của Chƣơng trình hành động Dakar (Trong chƣơng trình hợp tác giữa Viện chiến lƣợc và chƣơng trình giáo dục với UNESCO tại Hà Nội, Việt Nam)”[8]. Hiện nay, việc giáo dục KNS cho học sinh ở nƣớc ta đã đƣợc quan tâm nhiều hơn trƣớc, đặc biệt là khi triển khai Nghị quyết Trung ƣơng lần thứ 29, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục, các cuốn tài liệu đã nhấn mạnh đến việc giáo dục đạo đức, pháp luật, kỹ năng sống.

Nội dung giáo dục KNS cho học sinh trong nhà trƣờng trung học cơ sở tập trung vào các kỹ năng tâm lý- xã hội, là những kỹ năng đƣợc vận dụng trong những tình huống hàng ngày để tƣơng tác với ngƣời khác và giải quyết hiệu quả những vấn đề, những tình huống thực tiễn của cuộc sống.Sự khác biệt về tƣ chất, năng khiếu, tƣ cách của mỗi cá nhân là vấn đề đặt ra đối với đổi mới giáo dục. Vì thế, tùy thuộc vào tâm sinh lý lứa tuổi, hoàn cảnh, môi trƣờng sống mà giáo viên cần dạy cho từng học sinh những kỹ năng thiết yếu, phù hợp. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, do sức ép của thi cử mà các hoạt động giáo dục trong nhà trƣờng vẫn chủ yếu tập trung vòa việc truyền thụ kiến thức, các hoạt động rèn luyện KNS tại các trƣờng THCS, nhất là loại hình trƣờng PTDTNT THCS còn giản đơn và chiếm tỷ lệ thấp trong các hoạt động tại Nhà trƣờng. Nhƣ vậy vấn đề giáo dục KNS cho học sinh không còn là vấn đề mới trong các nhà trƣờng mà là một nhiệm vụ hết sức quan trọng đƣợc các nhà trƣờng xây dựng trong kế hoạch từng năm học, nhƣng chúng ta chƣa quan tâm đúng mức đến giáo dục KNS cho các em học sinh, chƣa giáo dục một cách đầy đủ phẩm chất nhân cách, mà chỉ chú ý đến giáo dục hành vi, rèn luyện biểu hiện bên ngoài, vì vậy đa số các em học sinh chƣa hiểu đƣợc bản chất của các KNS cần thực hiện, dẫn đến kết quả giáo dục ở một số trƣờng học chƣa tốt, số học sinh, sinh viên có những hành vi lệch chuẩn trong các nhà trƣờng ngày càng ra tăng trong thời gian gần đây, gây ra sự lo lắngcho cha mẹ học sinh và bức xúc trong dƣ luận, là sự trăn trở của cả ngành giáo dục.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ