Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG HỢP TÁC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG SINH HOẠT TẬP THỂ 1.Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về giáo dục kỹ năng hợp tác cho học sinh Trung học cơ sở thông qua hoạt động sinh hoạt tập thể Dạy học hợp tác là ý tưởng đã có từ rất lâu. Theo người Do Thái muốn học một điều gì đó cũng cần phải hợp tác với nhau, ví dụ để lĩnh hội được nội dung kinh Talmud mỗi người học phải có 3 thứ: một bản kinh Talmud, một thầy dạy và một bạn học. Từ đầu thế kỷ thứ nhất sau công nguyên, Quintilian M.F cho rằng người học sẽ có bất lợi nếu biết nói những điều mình hiểu cho người khác cùng hiểu.
Đến thế kỷ thứ XVII, Komenxki J.A (1592 - 1670) tin rằng học sinh sẽ học tốt từ việc dạy cho bạn bè và học từ bạn bè của mình. Các nhà giáo dục tiên tiến trên thế giới đều đã nói đến lợi ích của việc hợp tác học tập (HTHT), hợp tác trong các hoạt động tập thể, giúp đỡ lẫn nhau, từ đó tạo ra một môi trường học tập thuận lợi. Cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV Bebel R và Lancaster J người Anh đã tổ chức dạy học theo nhóm nhỏ, họ chia học sinh thành từng nhóm để hoạt động. Thông qua hoạt động hợp tác, người học cùng nhau trao đổi, chia sẻ, giúp nhau tìm hiểu, khám phá vấn đề và thu được kết quả học tập tốt.
Ý tưởng HTHT nhanh chóng đưa từ Anh sang Mỹ và đã nhận được sự hưởng ứng bởi những nhà giáo dục tiên phong như Dewey J, Parker R, 7 Deutch M. Họ đề cao khía cạnh xã hội của việc học tập và cũng nâng cao vai trò của nhà giáo trong việc giáo dục học sinh một cách dân chủ. J cho rằng muốn học cách cùng chung sống trong xã hội thì người học phải được trải nghiệm trong cuộc sống hợp tác ngay từ trong nhà trường. Cuộc sống trong lớp học là quá trình dân chủ hoá trong một thế giới vi mô và học tập phải có sự hợp tác giữa các thành viên trong lớp học.
Bối cảnh nền giáo dục nước Mỹ thế kỷ XVIII có sự cạnh tranh không lành mạnh do có hiện tượng kỳ thị, phân biệt chủng tộc trong giáo dục. Năm 1806 ở New York (Mỹ) thành lập trường Lancaster bắt đầu vận dụng tư tưởng giáo dục hợp tác. Tư tưởng này nhanh chóng phát triển rộng khắp nước Mỹ. Ở Mỹ đầu thế kỷ XIX các trường công đề cao việc hợp tác học tập nhằm đảm bảo cho những học sinh có nguồn gốc khác nhau cùng học trong một trường để trở thành “người dân Mỹ”.
“Ngôi nhà lớp học” là nơi giáo viên dạy những học sinh có nguồn gốc khác nhau cùng hợp tác trong học tập. Trong thời gian từ năm 1930 đến 1940, nhà tâm lí học xã hội Lewin, K đã nghiên cứu hành vi của các nhà lãnh đạo và thành viên trong các nhóm dân chủ. Lewin nhấn mạnh đến tầm quan trọng của cách cư xử trong nhóm và xây dựng lý thuyết cơ sở về HTHT. Sau đó, Deutsch, M đã phát triển lý luận về hợp tác và cạnh tranh trên cơ sở “Những lí luận nền tảng” của Lewin.
Đến năm 1940, Deutsch M đưa ra lí thuyết về các tình huống hợp tác và cạnh tranh. Cuối những năm 60 của thế kỷ XX, nước Mỹ phát động phong trào phản đối phân biệt chủng tộc trên quy mô lớn. Theo phong trào đó thì nhiều nhà giáo dục nước Mỹ cũng bắt đầu tìm kiếm những con đường giáo dục để cải thiện quan hệ chủng tộc trong môi trường lớp học. Vào những năm 70 của thế kỷ XX nhiều nhà nghiên cứu giáo dục của Mỹ đã thành lập nhóm “nghiên cứu hành động” để thiết kế các phương pháp sư phạm trên cơ sở các mối quan hệ tương tác giữa các cá nhân trong lớp học.
Tại hội nghị quốc tế đầu tiên về hợp tác học tập tại Israel vào năm 8 1979, Johnson, D; Aronson, E; Schmuck, R và Sherman, L đã đưa ra giải pháp “Hợp tác học tập”. Họ đã trình bày bản chất, đặc điểm, cấu trúc, nguyên tắc của hợp tác học tập, học tập cá nhân, học tranh đua và đã chỉ ra ưu, nhược điểm của từng cấu trúc của hợp tác học tập. Đặc biệt, chỉ rõ muốn học tập tốt học sinh phải có kỹ năng hợp tác học tập đồng thời chứng minh rằng hợp tác học tập góp tích cực vào sự hội nhập giữa học sinh da đen và da trắng. Nổi bật, các nhà nghiên cứu như: Johnson (et al, 1981); Sharan (1990); Slavin (1995) là đã chỉ ra 5 yếu tố chính trong cấu trúc dạy học hợp tác (DHHT): Sự phụ thuộc lẫn; Trách nhiệm cá nhân; Tương tác mặt đối mặt; Nhóm không đồng nhất; Kỹ năng xã hội.
Tính đến năm 1992, nghiên cứu việc giảng dạy và học tập hợp tác đã thực hiện trên 200 trường đại học và cao đẳng. Astin đã rút ra kết luận rằng: sự tương tác giữa người học với nhau và giữa người dạy với người học là những cơ sở rõ ràng nhất để có thể dự đoán được những thay đổi tích cực về quan điểm nhận thức trong học sinh đại học và cao đẳng. Trên thế giới dạy học theo hướng hợp tác học tập bắt đầu phát triển mạnh từ thập kỷ 70 của thế kỷ XX. Ở Liên xô (cũ), tư tưởng chủ đạo của hợp tác học tập làm cho HS thích học, nhận thấy niềm vui trong học tập và tạo không khí học tập thoải mái.
Đại diện là Amonashvily S. Ở Trung Quốc có Sheng Qun Li và Zheng Shu Zhen; Ngô Văn Bội; Vương Thản. cho rằng dạy học hợp tác giúp phát triển kỹ năng hợp tác học tập, tạo ra sự bình đẳng, hài hoà trong sự phát triển của HS. Như vậy, trên thế giới từ các nghiên cứu ở khu vực khác nhau cho thấy về tên gọi có đôi chút khác nhau nhưng nội hàm dạy học hợp tác đều lấy quan hệ hợp tác nhóm giữa HS với HS làm trung tâm để phát triển các mối quan hệ hợp tác giữa con người với con người; vừa là mục tiêu, vừa là điều kiện, vừa là môi trường của DH có hiệu quả.
9 - Các nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam từ lâu cũng đã có tư tưởng học tập hợp tác, ông cha ta có câu “học thầy không tày học bạn” quan điểm này cũng cho thấy lợi ích của việc học tập từ bạn bè. Dạy học hợp tác nhóm diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau như: nhóm tự quản, nhóm đôi bạn cùng tiến, nhóm ngoại khóa, nhóm trải nghiệm, nhóm sinh hoạt câu lạc bộ. vào những năm 70, phong trào học tập nhóm đã phát triển mạnh và có những kết quả tốt. Tuy nhiên, thời gian đó DHHT là phong trào tự phát, chưa có cơ sở khoa học vững chắc nên dần dần lắng xuống.
Những năm gần đây, với xu thế đổi mới PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập cũng như các hoạt động của học sinh, cùng với trào lưu hội nhập quốc tế, các nhà nghiên cứu đã nhận thấy cần phải tổ chức cho học sinh học tập hợp tác theo nhóm. Công trình nghiên cứu đề tài cấp bộ “Cải tiến tổ chức hoạt động giáo dục theo phương thức hợp tác” do Nguyễn Thanh Bình chủ nhiệm đã làm rõ khái niệm DHHT và vận dụng mô hình học tập hợp tác ở trường THCS. Trong cuốn “Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học” của tác giả Nguyễn Hữu Châu đã đề cập đến DHHT chỉ ra DHHT là sử dụng nhóm nhỏ để học sinh làm việc cùng nhau nhằm phát huy tối đa kết quả học tập của bản thân. Theo quan điểm của ông: HTHT phức tạp hơn học cá nhân, các thành viên phải biết đưa ra quyết định, xây dựng lòng tin, giải quyết mâu thuẫn và khẳng định rèn kỹ năng học cá nhân, học tranh đua, học tập hợp tác trở thành một mục tiêu kép trong dạy học.
Đặng Thành Hưng (2002) trong cuốn “Dạy học hiện đại - lý luận, biện pháp, kỹ thuật” trên cơ sở khái quát các công trình nghiên cứu của Slavin R. đã đưa ra khái niệm nhóm hợp tác so sánh với kiểu học tranh đua và học cá nhân, chỉ ra tầm quan trọng KNHTHT và các nguyên tắc đảm bảo cho DHHT thành công. Tiếp đến trong 10 một số bài báo như: “Hệ thống kĩ năng học tập hiện đại” “Nhận diện và đánh giá kĩ năng”., tác giả Đặng Thành Hưng đã chỉ ra hệ thống các kỹ năng học tập trong môi trường hiện đại. Thông qua hệ thống kỹ năng học tập, tác giả cho thấy học tập chính là thiết lập các mối quan hệ tích cực, cùng nhau chia sẻ và giải quyết các vấn đề, nhất là các vấn đề khó giải quyết.
Đây chính là những KNHTHT được tác giả nhận diện trong môi trường học tập hiện đại. Ngoài ra các bài viết của Nguyễn Kim Quý (2003) “Một số kết quả về việc áp dụng phương pháp dạy học cộng tác”, Nguyễn Thị Hồng Nam (2003) “Tổ chức hoạt động hợp tác trong học tập theo hình thức thảo luận nhóm. Nguyễn Bá Kim (2006) trong “PPDH môn toán” nhận định thông qua hoạt động nhóm, học sinh cùng hoàn thành những công việc mà một mình không thể tự hoàn thành được trong một thời gian nhất định. Trong HTHT theo nhóm, học sinh có cơ hội bộc lộ, thể hiện mình về mặt giao tiếp; làm việc hợp tác; phát triển năng lực; học hỏi lẫn nhau; đem lại bầu không khí đoàn kết, giúp đỡ, tin tưởng lẫn nhau.
và có cơ hội rèn luyện, phát triển những KN đó. Thái Duy Tuyên (2008) trong cuốn “Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới” đã đi sâu nghiên cứu DHHT nhóm và xem đây là một trong những PPDH hiện đại nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh. Ông nêu rõ khái niệm, tầm quan trọng của DHHT, những ưu nhược điểm của học hợp tác, những tính chất cơ bản của sự hợp tác trong học tập. Theo ông, kỹ năng HTHT là một loại kỹ năng quan trọng đối với con người cũng như đối với học sinh, bởi vì hầu hết các mối quan hệ của con người đều là hợp tác.
Mọi kỹ năng có liên quan tới cá nhân, nhóm và tổ chức đều được coi là kỹ năng hợp tác.