Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới. + Chương 2: Thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT Chà Cang, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới. + Chương 3: Một số biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT Chà Cang, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC HƢỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Nghiên cứu của nhóm tác giả Refvem, Joanna; Plante, Jean C. Larry Đại học North Carolina tại Greensboro về tương tác tư vấn nghề nghiệp trong Trường Trung học qua việc tích hợp sử dụng của Internet vào chương trình phát triển giáo dục nghề nghiệp trong trường học. Nghiên cứu cho thấy các chuyên gia và sinh viên cần trợ giúp trong quá trình thu thập, giải mã, và sau đó sử dụng thông tin nghề nghiệp.
Bài viết của Sandra C.Taylor, trợ lý giáo sư tại trường đại học Wisconsin–Green Bay- Hoa Kỳ đã mô tả một 1 giờ hội thảo được thiết kế để định hướng nghề nghiệp và hỗ trợ sinh viên ra quyết định nghề nghiệp2 Chức năng của giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) không chỉ là chuyển giao tri thức của nhân loại từ thế hệ này sang thế hệ khác mà còn đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước. Nguồn nhân lực ngày nay được hiểu là “nhân cách - sức lao động’’ hay còn hiểu là con người hội đủ các yếu tố “KASB+3H’’. Có nghĩa là: tri thức (Knowledge), thái độ (Attitute), kĩ năng (Skill), hành động (Behavior) cộng thêm với 3H là: thể lực (Hand), tâm lực (Heart), trí lực (Head). Để đạt được điều đó thì GD&ĐT không thể thiếu quá trình GDHN.
- Năm 1849 lần đầu tiên quyển sách “ Hướng dẫn chọn nghê” được xuất bản tại Pháp. Ngày 25-12-1922 Bộ Công nghiệp và Thương nghiệp Cộng hòa Pháp đã ban hành nghị định về công tác hướng học, hướng nghiệp và thành lập Sở Hướng nghiệp cho thanh niên dưới 18 tuổi; tới ngày 24-5-1938 công tác 2 Joanna Refvem, Jean C. Larry Osborne (2000); Interactive Career Counseling in Middle and Secondary Schools [microform] ; Integrating the Use of the Internet into School Career Development Programs; Califorlia 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hướng nghiệp đã mang tính pháp lý thông qua quyết định ban hành chứng chỉ hướng nghiệp bắt buộc đối với tất cả thanh niên dưới 17 tuổi, trước khi trở thành người làm việc trong các xí nghiệp thủ công, công nghệ hoặc thương nghiệp. Từ năm 1960, Pháp đã tiến hành thành lập hệ thống các trung tâm thông tin hướng học và hướng nghiệp từ Bộ Giáo dục đến khu, tỉnh, huyện và cụm trường.
Năm 1975, nước Pháp đã tiến hành cải cách giáo dục để hiện đại hóa nền giáo dục. Cải cách giáo dục ở Pháp chú ý đặc biệt chăm lo giảng dạy lao động và nghề nghiệp cho học sinh, khắc phục khuynh hướng và quan niệm coi giáo dục lao động là một hoạt động giáo dục loại hai (tức là đứng sau các môn khoa học). Nhà trường Pháp hiện nay đã giảm bớt tính hàn lâm trong việc cung cấp các kiến thức khoa học, tăng tỉ trọng kiến thức có ý nghĩa thực dụng và ý nghĩa hướng nghiệp để giúp cho học sinh trung học chuẩn bị đi vào đào tạo và cuộc sống nghề nghiệp. - Ở Mỹ, vấn đề hướng nghiệp được gọi là chỉ dẫn nghề nghiệp, là một thành tố quan trọng của nền giáo dục trung học.
Học sinh được học chương trình giáo dục nghề nghiệp từ tiểu học. Chương trình này góp phần thực hiện mối liên hệ giữa nhà trường và sản xuất đồng thời tạo điều kiện cho học sinh tham gia vào tất cả các quá trình công nghệ để giải quyết các vấn đề thực tế. Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thuộc nhóm lý luận về động cơ đại diện là G.Maslow thì điều kiện để con người thỏa mãn một nghề nghiệp là: + Tính độc lập và tính chất của sự chỉ dẫn. + Mối quan hệ qua lại tốt với đồng sự, địa vị xã hội.
+ Sự công bằng (công nhận chất lượng công việc, trả lương chính đáng) + Hứng thú đối với công việc, khả năng áp dụng những kỹ năng của mình, sự đa dạng của công việc. + Các điều kiện khách quan của lao động, tính chất của công việc, điều kiện lao động, công cụ lao động. + Độ lớn của tiền lương 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Sự đảm bảo về công việc (tính thường xuyên của công việc, không bị mất việc + Phần lớn là các ban kỹ thuật công nghiệp, đào tạo kỹ thuật viên và tú tài kỹ thuật viên. - Ở Liên Xô (cũ), công tác hướng nghiệp được các lãnh tụ và nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.
- Karl Marx đã khẳng định việc chọn nghề là một việc rất quan trọng trong cuộc sống con người. Do vậy, việc chọn nghề cần suy nghĩ kỹ và là trách nhiệm của thanh niên trước khi bước vào đời. “Nếu ta chọn nghề trong đó ta có thể làm được việc nhiều hơn cho nhân loại thì ta sẽ không còng lưng dưới gánh nặng của nó, bởi vì đó là sự hy sinh cho mọi người, khi đó ta tìm thấy một niềm vui không phải là tội nghiệp, thiển cận, ích kỷ, mà hạnh phúc của chúng ta sẽ thuộc về hàng triệu người, những việc làm chúng ta sẽ sống một cuộc sống âm thầm nhưng mãi có hiệu quả và trên thi hài của chúng ta sẽ giữ những giọt nước mắt nóng bỏng của những con người cao quí”. - Ở Nhật Bản, đã từ lâu giáo dục Nhật Bản chú ý đến vấn đề hoàn thiện nội dung, hình thức dạy học kĩ thuật nhằm cung cấp tri thức, rèn luyện kĩ năng lao động nghề nghiệp và phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh phổ thông.
Chính vì vậy, ở Nhật Bản trong những năm qua, nhiều cuộc cải cách giáo dục đã được tiến hành với mục đích đảm bảo cho giáo dục phổ thông đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế cụ thể của đất nước. Trong đó có nhiều biện pháp đã được áp dụng để nâng cao trình độ đào tạo về hướng nghiệp và khoa học tự nhiên trong các trường phổ thông.2 Những nghiên cứu ở trong nước Từ những năm 60 của thế kỉ XX, ở Việt Nam, lí luận và thực tiễn hướng nghiệp được bắt đầu phát triển chủ yếu dựa trên cơ sở lí luận và kinh nghiệm thực tiễn hướng nghiệp của Liên Xô (cũ). Thời kì đầu, quan niệm hướng nghiệp đi đôi với giáo dục lao động, để định hướng nghề nghiệp cho HS trước hết cần giáo dục cho HS thái độ sẵn sàng bước vào các hoạt động nghề nghiệp. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đến đầu những năm 80, khi xuất hiện nhu cầu đẩy mạnh giáo dục lao động, KTTH - HN nhằm chuẩn bị kĩ năng cho HS đi vào cuộc sống thì hướng nghiệp mới thực sự được nhà nước chú trọng đến [31].
Trong thời gian này có các bài viết của các tác giả Phạm Tất Dong, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Thị Bình, Đoàn Chi, Đặng Danh Ánh, Nguyễn Minh Đường, đã đề cập đến trách nhiệm của nhà trường trong việc định hướng nghề cho HS, biện pháp hướng nghiệp cho HS và xây dựng một số cơ sở lí luận nền tảng về hướng nghiệp [1], [11], [14], [15], [34]. Các tác giả Phạm Huy Thụ, Tô Bá Trọng, Lê Đức Phúc, Nguyễn Văn Lê [8], [22], [27] đã đi sâu nghiên cứu việc tiến hành công tác hướng nghiệp trong các trường phổ thông theo Thông tư 31-TT ngày 17/11/1982 của Bộ GDĐT về Hướng dẫn thực hiện Quyết định 126/CP ngày 19/3/1981 của Chính phủ về công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và sử dụng hợp lý HS tốt nghiệp THCS, THPT ra trường. Các công trình nghiên cứu đề cập đến các hình thức GDHN, dạy nghề trong trường phổ thông và TT KTTH-HN, bao gồm: tổ chức lao động sản xuất cho HS phổ thông; tư vấn nghề nghiệp cho HS; các phương thức giáo dục kỹ thuật và hướng nghiệp. Năm 1985 – 1987: Các tác giả Nguyễn Trọng Bảo, Đoàn Chi, Cù Nguyên Hanh, Hà Thế Ngữ, Tô Bá Trọng, Trần Đức Xước, Nguyễn Thế Quảng, Nguyễn Phúc Chỉnh đi sâu nghiên cứu việc tiến hành công tác GDHN trong các trường phổ thông và đề cập đến các hình thức GDHN, dạy nghề trong trường phổ thông và trung tâm KTTH-HN như tổ chức lao động sản xuất cho HS; tư vấn nghề nghiệp cho HS [8], [9].
Từ năm 1996-2005: Hà Thế Truyền đã đề cập các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục kĩ thuật và hướng nghiệp ở trường phổ thông [22], [29]. Từ năm 2003- 2010, khái quát các kinh nghiệm hướng nghiệp của một số nước trên trên giới, có những đánh giá về công tác hướng nghiệp cho HS ở trường phổ thông và đã đưa ra những giải pháp về công tác GDHN ở Việt Nam giai đoạn 2005-2010 có các tác giả Phạm Tất Dong, Vũ Văn Tảo, Nguyễn Như 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ất, Lưu Đình Mạc, Phạm Huy Thụ, và sau này có Nguyễn Văn Lê, Hà Thế Truyền [17], [18], [22] Các luận án của các tác giả Nguyễn Thị Nhung (2009): “Biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông miền núi Tây Bắc” [25] ; Bùi Việt Phú (2009): “Tổ chức GDHN cho HS trung học phổ thông theo tinh thần xã hội hóa” [28]. Nhìn chung, các nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về hướng nghiệp, đồng thời, làm nổi bật vai trò quan trọng của hoạt động GDHN đối với việc chuẩn bị nguồn nhân lực cho CNH, HĐH ở Việt Nam trong giai đoạn 2001 - 2010. Bên cạnh đó, các tác giả cũng đã phân tích cụ thể vai trò của quản lý nhà nước, vai trò của giáo dục nói chung và hướng nghiệp nói riêng trong việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo tỷ trọng thích hợp giữa công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ trong chiến lược phát triển KT - XH của đất nước, để từ đó có cơ sở chỉ đạo xây dựng nội dung GDHN phù hợp, làm cho con người có khả năng thích ứng với yêu cầu của thị trường và làm chủ công nghệ mới, khoa học - kỹ thuật hiện đại.