phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được trình bày theo 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường THPT Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường THPT Cao Bá Quát, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội. Chƣơng 3: Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường THPT Cao Bá Quát, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƢỚNG NGHIỆP TRONG TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1.
Các nghiên cứu ở nước ngoài Hướng nghiệp trong giáo dục với bản chất là hệ thống các biện pháp tiến hành trong và ngoài nhà trường để giúp học sinh phổ thông có kiến thức về nghề nghiệp và có khả năng lựa chọn nghề nghiệp trên cơ sở kết hợp nguyện vọng, sở trường của cá nhân với nhu cầu sử dụng lao động của xã hội, đóng vai trò quan trọng trong quá trình đổi mới nhằm đạt được mục tiêu đó. Ở lĩnh vực nghề nghiệp, việc chọn nghề đã được nhiều nhà khoa học của các nước trên thế giới quan tâm nghiên cứu nhằm giúp cho thanh thiếu niên, học sinh có sự lựa chọn nghề phù hợp với năng lực, thể lực, trí tuệ, hứng thú cá nhân và yêu cầu kinh tế của đất nước. Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 trên bình diện thế giới, vai trò của tâm lý học rất nổi trội trong việc tạo ra các nền tảng khoa học về nghiên cứu hướng nghiệp. Ở Pháp năm 1897, Edouard Toulouse đã viết nhân dịp trình bày công trình của mình trước Hội Tâm lý Y khoa (trong Ghighone.
R 1998, trang 20) rằng “Chúng ta dễ dàng hiểu được ích lợi của học tập và nó cho phép nêu rõ những phẩm chất cấp thiết để thành công trong nghề này hay nghề khác, đưa ra cho học sinh tốt nghiệp lời khuyên nhằm tránh những thiên hướng sai lệch, hướng họ vào con đường thành công… Tôi nghĩ rằng trong thời gian tới, chúng ta sẽ biết rõ những cách thức cấp thiết cho mỗi nghề và khi ra trường, chúng ta có thể thấy các tiểu ban sư phạm y tế hoạt động và có khả năng chỉ ra cho mỗi người con đường đi của mình. Đây là tương lai xa. Tôi cũng cho rằng chúng ta làm được điều đó”. Linh tính về phân tích lao động, lựa chọn và hướng nghiệp.
M Huteau (2002) trong tác phẩm uyên bác viết về E Toulouse, nhắc lại rằng cùng với A Binet, ông là một trong 2 nhà sáng lập ra ngành tâm 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lý thực nghiệm tại Pháp và đối với nước Pháp, ông là người khởi xướng chính của trào lưu kỹ thuật tâm lý và ông luôn tìm cách sửa chữa những lệch lạc. Thuật ngữ “Hướng nghiệp học đường và hướng nghiệp nghề” xuất hiện ngày 06/01/1959 trong văn bản lập pháp. Những nhà tư vấn hướng nghiệp trước hết phải đối lập với vấn đề tái định hướng cho các trẻ em gặp khó khăn. Cùng với giáo viên và phụ huynh học sinh, theo thời điểm mong muốn, họ phải tổ chức thường xuyên, liên tục các bài kiểm tra một cách có hệ thống tìm hiểu nhờ các trắc nghiệm tâm lý, kiến thức và điều đó cho phép đưa ra các thông tin xác đáng, khác nhau về các nhận xét mang tính sư phạm và đánh giá.
Từ tháng 03năm 1991 các nhà tư vấn hướng nghiệp trở thành nhà tư vấn hướng nghiệp - tâm lý. Năm 1883, ở Mỹ, nhà tâm lý học Ph.Ganton đã trình bày công trình thử nghiệm (Test) với mục đích lựa chọn nghề nghiệp. Vào đầu thế kỷ XX ở Mỹ, Anh, Pháp, Thụy Điển đã xuất hiện các cơ sở dịch vụ hướng nghiệp, tư vấn cho thanh niên ở đó chọn được nghề thích hợp với khả năng của bản thân và các nghề đang có nhu cầu tuyển dụng trong xã hội. Ở nước Nga, nhiều nhà khoa học nổi tiếng đã phát triển lí luận về GDHN.
là những nhà khoa học có nhiều đóng góp quan trọng trong lĩnh vực giáo dục lao động kĩ thuật tổng hợp trong những năm 70 của thế kỉ XX. Các nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu ý tưởng "học tập kết hợp với lao động sản xuất" để hình thành nhân cách toàn diện cho học sinh [30]. Cuốn sách về hướng nghiệp của trường đại học tổng hợp Petecbua của B.Kappev:" Lựa chọn khoa và điểm qua chương trình đại học tổng hợp" đã nêu rõ ý nghĩa về lựa chọn nghề khi thi vào trường đại học, được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1897. Ở Đức, Quản lý giáo dục hướng nghiệp ở trường THPT được nhiều tác giả quan tâm: Các nhà nghiên cứu của Tổ chức nghiên cứu về lao động kĩ thuật và kinh tế trong hoạt động dạy học với các công trình nghiên cứu về vấn 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đề cải cách nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học lao động nghề nghiệp; Các công trình nghiên cứu của các tác giả ở Viện Hàn lâm Khoa học giáo dục - Cộng hòa Dân chủ Đức như Heinz Frankiewicz, B.Marschneider đã nêu lên sự phối hợp chặt chẽ giữa trung tâm GDKT - TH với nhà trường phổ thông [30].
Magumi Nishino thuộc Viện nghiên cứu giáo dục Nhật Bản đã nghiên cứu vấn đề bồi dưỡng tri thức và kĩ năng cơ bản của những ngành nghề cấp thiết cho học sinh phổ thông: "Bồi dưỡng tri thức và kĩ năng cơ bản của những ngành nghề cấp thiết trong xã hội, có thái độ tôn trọng đối với lao động và có khả năng lựa chọn ngành nghề trong tương lai phù hợp với mỗi cá nhân"[30]. Ở Nhật Bản, giáo dục đã sớm chú ý đến vấn đề hoàn thiện nội dung, hình thức dạy học kĩ thuật nhằm cung cấp tri thức, rèn luyện kĩ năng lao động nghề nghiệp và phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh phổ thông. Chính vì vậy, Nhật Bản đã giải quyết tốt mối quan hệ giữa học vấn văn hóa phổ thông với kiến thức lao động - nghề nghiệp ở tất cả các bậc học. Có khoảng 27,9% các trường phổ thông trung học vừa học văn hóa phổ thông; vừa học các môn kỹ thuật thuộc các lĩnh vực cơ khí, công nghiệp, ngư nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ,…Sau cấp II có tới 94% học sinh vào cấp III, trong đó có 70% học sinh theo học loại hình trường phổ thông cơ bản và 30% học sinh theo hướng học nghề.
Trong những năm qua nhiều cuộc cải cách ở Nhật Bản đã tiến hành với mục đích đảm bảo cho giáo dục phổ thông đáp ứng được các yêu cầu phát triển kinh tế của đất nước. Tại Hàn Quốc, trong các loại hình trường phổ thông, nội dung giảng dạy kỹ thuật- lao động là một bộ phận cấu thành quan trọng trong chương trình giáo dục. Hết cấp II học sinh sẽ đi theo hai luồng chính đó là: phổ thông và chuyên nghiệp. Các trường kỹ thuật nghề nghiệp tuyển sinh trước rồi mới chọn học sinh theo luồng phổ thông.
Trung Quốc khuyến khích giáo dục suốt đời một cách tích cực. Hiện nay, giáo dục dựa trên cộng đồng đang được phát triển mạnh mẽ. Trong 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chương trình dạy thường có các môn học tự chọn với mục tiêu trang bị cho học sinh những kiến thức và kỹ năng chuyên môn cấp thiết để học sinh có khả năng tham gia lao động nghề nghiệp ở các lĩnh vực kinh tế- xã hội khác nhau hoặc tiếp tục học lên trình độ nghề nghiệp cao hơn ở bậc đại học. Các công trình khoa học của các tác giả của một số nước trên thế giới về GDHN trong trường phổ thông đều đã chú trọng đến việc cải cách mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ sở vật chất - kĩ thuật phục vụ cho công tác hướng nghiệp, nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này trong nhà trường và làm tốt công tác phân luồng học sinh.
Các nghiên cứu ở Việt Nam So với các nước trên thế giới thì GDHN ở nước ta còn mới mẻ cả về lý thuyết và trong hoạt động thực tiễn. Từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX, các công trình khoa học của nhiều nhà tâm lý học, giáo dục học, xã hội học đã tiếp cận nghiên cứu về GDHN cho HS phổ thông ở những khía cạnh khác nhau. Tác giả Phạm Minh Hạc phân tích tình hình giáo dục - đào tạo ở nước ta và đã xây dựng phương hướng đổi mới giáo dục từ việc xây dựng một nền giáo dục kĩ thuật, đó là "nền giáo dục được chỉ đạo bằng tư tưởng phục vụ phát triển công nghệ". Tác giả đã đưa ra quan điểm về con người trong công cuộc đổi mới, đó là ưu tiên đến việc giáo dục nghề nghiệp, đây cũng là quan điểm GDHN sau này [20].
Các tác giả Phạm Tất Dong, Đặng Danh Ánh, Đoàn Chi. đã nghiên cứu về hứng thú, khuynh hướng nghề nghiệp của học sinh và xây dựng chương trình hướng nghiệp chính khóa cho học sinh phổ thông Từ năm 1979 - 1981 Viện khoa học dạy nghề và tổng cục dạy nghề (cũ) cũng đã tiến hành nghiên cứu nhiều công trình hướng nghiệp như hình thành phòng truyền thống, phòng tư vấn tuyển chọn nghề. Giai đoạn 1982- 1986 đã có các đề tài mô tả nghề do các tác giả: Đặng Danh Ánh, Nguyễn Viết Sự, Đỗ Thị Hòa, Phạm Đức Quang thực hiện. Nhìn chung những công trình này chỉ 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tập trung đề cập đến việc xây dựng các phòng hướng nghiệp, và việc tư vấn nghề trong các trường nghề và trường phổ thông.
[30] Trong những năm 1983- 1996 Giáo dục hướng nghiệp ở nước ta đã đạt được một số thành tựu quan trọng, GDHN phát triển mạnh mẽ ở hầu hết các trường cấp II, cấp III: Nhiều trường đã có phòng hướng nghiệp, nhiều lớp đã có góc hướng nghiệp, nhiều cá nhân có công trình nghiên cứu về hướng nghiệp. Tuy nhiên, từ năm 1997, do nhiều nguyên nhân khác nhau, vai trò của GDHN dần bị coi nhẹ, việc học nghề của học sinh phổ thông ít được quan tâm dẫn đến tình trạnh thừa thầy, thiếu thợ ở nước ta ngày càng nghiêm trọng hơn, ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển nguồn nhân lực trong giai đoạn CNH-HĐH đất nước. Nhiều nghị quyết của Đảng đã nói đến thực trạng này. Từ Đại hội Đảng lần thứ VIII (1996) đến Đại hội Đảng lần thứ XI (2011), Trung ương Đảng luôn nhấn mạnh đến tăng cường công tác hướng nghiệp, đẩy mạnh công tác dạy nghề.