Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động GDHN cho Trẻ Khuyết tật. Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động GDHN tại Trung tâm Giáo dục Trẻ Khuyết tật Thuận An, tỉnh Bình Dương. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động GDHN tại Trung tâm Giáo dục Trẻ Khuyết tật Thuận An, tỉnh Bình Dương. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH KHUYẾT TẬT ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 1.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề Vấn đề GDHN và quản lý GDHN cho TKT trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng đã được quan tâm nghiên cứu bởi nhiều nhà khoa học. Nghiên cứu trên thế giới Nguồn gốc của hướng nghiệp hiện đại bắt đầu vào năm 1908 tại Mỹ khi nhà cải cách xã hội Frank Parsons đưa ra ý tưởng giúp giới trẻ lựa chọn nghề và nhận được sự đồng tình ủng hộ của nhiều người. Năm 1909, Parsons xuất bản cuốn sách “Lựa chọn nghề nghiệp - Choosing vocation.” Cuốn sách đã nêu các mô hình hiện đại cho hướng nghiệp và trình bày cơ sở tâm lý học của việc hướng nghiệp và chọn nghề, các tiêu chí về sự phù hợp nghề của mỗi cá nhân để từ đó có sự lựa chọn phù hợp. Theo Frank Parson, hoạt động hướng nghiệp phải dựa vào năng lực, năng khiếu và sở thích của cá nhân.
Khi một nghề được lựa chọn không phù hợp với năng khiếu, năng lực của cá nhân là một nghề không có hiệu quả vì cá nhân không có động lực, không có sự thích thú khi làm việc. Trong khi một nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở trường thì thường khuyến khích cá nhân thực hiện tốt yêu cầu công việc, làm tăng giá trị kinh tế, làm ra các sản phẩm có chất lượng, các dịch vụ có hiệu quả và thu nhập cao [24, tr. Sau đó, lần lượt các học thuyết khoa học về hướng nghiệp đã được ra đời vào những năm 1950 và 1960, giúp đẩy mạnh quá trình GDHN cũng như củng cố cho hiệu quả của công tác GDHN trong trường học cũng như ngoài xã hội. Các học thuyết hướng nghiệp tiêu biểu gồm: học thuyết đặc tính cá nhân – đặc điểm nghề của John Holland (1959); lý thuyết mô hình phát triển nghề nghiệp “A Career Development Theory” của Bordin, Nachmann, và Segal (1963); lý thuyết điều chỉnh công việc “Work Adjustment Theory” của Lofquist và Dawis (1969); lý thuyết lý thuyết học tập xã hội “A Social Learning Theory” trong việc ra quyết định nghề nghiệp John Krumboltz (1979); lý thuyết phát triển khát vọng nghề nghiệp “Theory 10 of Occupational Aspirations” của Gottfredson (1981); lý thuyết về phát triển NN dựa trên lý thuyết nhận thức và mô hình xử lý thông tin để giải thích các quá trình liên quan của Peterson, Sampson, Reardon (1991).
Trong các lý thuyết kể trên, phải nhấn mạnh điển hình là lý thuyết của John Holland. Năm 1959, John Holland đưa ra đặc điểm định hướng toàn diện giải thích về việc lựa chọn nghề. Ông nhấn mạnh việc "tìm kiếm" các khía cạnh phù hợp giữa con người và môi trường: "Khi con người có nhiều thông tin về môi trường NN sẽ có những lựa chọn công việc thích hợp hơn người có ít thông tin". Năm 1973, ông xuất bản một phiên bản đầy đủ hơn về lý thuyết này.
Lý thuyết John Holland là lý thuyết duy nhất sử dụng một hệ thống đánh giá toàn diện và tích hợp dựa trên nghiên cứu thực nghiệm, thông qua việc kiểm tra và phân tích chặt chẽ. Do vậy, lý thuyết của Holland đã cung cấp động lực cho hàng trăm công trình nghiên cứu và là mô hình có ảnh hưởng nhất trong việc lựa chọn nghề của người lao động trong thời đại hiện nay [36]. Vào giữa thế kỉ XIX, ở Pháp xuất hiện cuốn sách “Hướng nghiệp chọn nghề”. Nội dung cuốn sách đề cập tới vấn đề phát triển đa dạng của nghề do sự phát triển công nghiệp.
Ngay khi đó, người ta đã nhận thấy tính đa dạng, phức tạp của hệ thống nghề nghiệp, tính chuyên môn hoá vượt lên hẳn so với giai đoạn sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp, qua đó khẳng định tính cấp thiết phải giúp đỡ thanh thiếu niên học sinh đi vào “Thế giới nghề nghiệp” nhằm sử dụng hiệu quả lao động trẻ tuổi [56]. Ở Nhật Bản, công trình “Cải cách giáo dục Nhật Bản hướng tới thế kỉ 21” của Magumi Nishino (Viện nghiên cứu giáo dục Nhật Bản) đã nghiên cứu khá sâu sắc vấn đề bồi dưỡng tri thức và kĩ năng cơ bản của những ngành nghề cần thiết cho học sinh phổ thông. Theo tác giả, học sinh trung học phải được: Bồi dưỡng tri thức và kĩ năng cơ bản của những ngành nghề cần thiết trong xã hội, có thái độ tôn trọng đối với lao động và có khả năng lựa chọn nghề tương lai phù hợp với mỗi cá nhân. Từ lâu, GD Nhật Bản đã chú ý đến vấn đề hoàn thiện nội dung, hình thức dạy học kĩ thuật nhằm cung cấp tri thức, rèn luyện kĩ năng lao động nghề nghiệp và phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh phổ thông [12].
11 Tại Úc, nhiều nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu về GDHN như Allan Waller với công trình khoa học “Một số vấn đề quản lý giáo dục ở Australia”. Ông đã chỉ ra: “Nhà trường hiện nay không chỉ là nơi dạy lý thuyết, mà phải cung cấp cho HS một khả năng chuyển đổi thật nhanh và có sự bình đẳng giữa các HS, làm cho HS vừa có kỹ năng lao động, vừa có tri thức” [70, tr. Tại các nước trong khu vực ASEAN trong những năm qua đã và đang tăng cường GDHN cho HSPT như: - Philippin: Một trong những mục tiêu GDPT là đào tạo nguồn nhân lực với trình độ tay nghề cần thiết để có thể lựa chọn nghề. Chính vì thế mà ở cấp II đã thực hiện giáo dục nghề nghiệp, và chuẩn của học sinh là phải đạt được những kiến thức, kĩ năng, thông tin nghề nghiệp và tinh thần làm việc tối thiểu cần thiết để có thể chọn nghề.
Đến cấp III tập trung vào một số lĩnh vực cụ thể như hướng nghiệp và dạy nghề. - Thái Lan: Ngay từ cấp Tiểu học đã trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản, kĩ năng tối thiểu của một số công việc nội trợ, nông nghiệp và nghề thủ công. Đến cấp II đẩy mạnh công tác GDHN gắn với một nghề trên cơ sở phù hợp với độ tuổi, sở thích, nhu cầu của mỗi học sinh, đây là bước tiền đề cho học sinh vào cấp III. Vì họ cho rằng giáo dục nghề nghiệp gắn liền với hướng nghiệp nhằm cung cấp cho học sinh những kĩ năng nghề nghiệp, tất cả các trường phải dạy nghề theo quy định của Bộ, học sinh đạt chuẩn sẽ được cấp chứng chỉ nghề.
Jacques Delors, chủ tịch Uỷ ban quốc tế độc lập về giáo dục của UNESCO khi phân tích những trụ cột của nền tảng giáo dục đã viết rằng: “Học tri thức, học làm việc, học cách chung sống và học cách tồn tại ". Theo tác giả vấn đề GDHN và học nghề của học sinh phổ thông là một căn bản không thể thiếu được trong giáo dục. Tác giả đã nhấn mạnh việc học sinh có cơ hội phát triển năng lực của mình bằng cách tham gia các hoạt động nghề nghiệp song song với việc học tập tri thức [5]. Liên quan đến giáo dục hướng nghiệp cho TKT, các tác giả Connop D, J McCaip, G.
White đã đưa ra những khó khăn của TKT trong sinh hoạt, đời sống và đặt ra các yêu cầu đối với công tác chăm sóc, giáo dục và hướng nghiệp cho TKT. Nghiên cứu đã khẳng định rằng chăm sóc giáo dục phải am hiểu về những nguyên 12 nhân gây ra khuyết tật, phải tạo điều kiện cho TKT vừa học vừa làm quen với thực tiễn nghề nghiệp. Các nghiên cứu của Hexander và Strain (1978), Dockington và Lucas (1951), Laxhan (1982) và nhiều nhà nghiên cứu khác về lĩnh vực GDHN học sinh khuyết tật đã xây dựng các cơ sở trong công tác quản lý hoạt động GDHN để các nhà hoạch định chính sách giáo dục đưa ra những văn bản, chính sách đúng đắn cho vấn dề chăm sóc giáo dục TKT. Các nghiên cứu này đặc biệt nhấn mạnh đến việc giáo viên đảm nhận công tác GDHN phải được đào tạo, bồi dưỡng những kiến thức kỹ năng cần thiết để không chỉ giảng dạy mà còn có khả năng tư vấn cho gia đình trẻ khuyết tật trong việc chăm sóc và giáo dục trẻ.
Trong đó, nghiên cứu của Dockington và Lucas (1951) về lĩnh GDHN và quản lý hoạt động GDHN HSKT đã khẳng định: Sự hiểu biết, lòng nhiệt tình, thái độ khuyến khích hay thờ ơ của giáo viên là những yếu tố có ảnh hưởng tới GDHN TKT. Nó có tác dụng là tạo sự dễ dàng hơn cho trẻ khuyết tật khi thực hiện các hoạt động trong nhà trường, nhưng cũng có thể tạo nên sự ức chế, hìm hãm trong môi trường này. Ở Cộng hòa liên bang Đức thì có hệ thống GD dành cho TKT rất hiện đại, và đồng thời họ rất chú ý đến vấn đề dạy nghề cho đối tượng này. Nếu như những trẻ khuyết tật ở nước Đức khi lớn lên gặp cảnh thất nghiệp hay kiếm việc làm thì chính sách an sinh xã hội với quỹ bảo hiểm thất nghiệp của họ sẽ đảm bảo cho NKT để họ hòa nhập với xã hội.
Như vậy, ở các quốc gia trên thế giới, vấn đề đào tạo, dạy nghề và hỗ trợ việc làm cho NKT nói chung, trẻ khuyết tật nói riêng đã được quan tâm từ rất lâu. Nhiều mô hình hỗ trợ TKT học nghề và tìm kiếm việc làm phù hợp với khả năng tay nghề rất phù hợp với thực tế và tiên tiến. Bên cạnh hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội dành cho TKT, công tác xã hội tại các nước phát triển cũng song hành trong việc hỗ trợ TKT. Nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam, công tác hướng nghiệp được chính thức đưa vào trường phổ thông từ 19/3/1981 theo quyết định số 126/CP của Chính phủ về công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông từ THCS, THPT tốt nghiệp ra trường.
Quyết định nêu rõ vai trò, vị trí, nhiệm vụ công tác hướng nghiệp, phân công cụ thể chính 13 quyền các cấp, các ngành kinh tế, văn hóa từ trung ương đến địa phương có nhiệm vụ tạo mọi điều kiện thuận lợi trực tiếp giúp đỡ các trường phổ thông trong việc đào tạo, sử dụng hợp lí và tiếp tục bồi dưỡng HS phổ thông sau khi ra trường. Theo đó, Thông tư 31-TT của Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc hướng dẫn thực hiện Quyết định nêu trên.