Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Việc giáo dục di sản - đưa các loại hình di sản văn hóa vào giới thiệu, giảng dạy trong nhà trường là một trong những giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa thường được các nhà quản lý văn hóa đề cập đến trong nhiều năm qua. Theo các chuyên gia, di sản văn hóa là tài sản vô giá, góp phần làm nên bản sắc riêng của từng địa phương, từng quốc gia, là chất liệu gắn kết cộng đồng, dân tộc, là cơ sở để sáng tạo những giá trị tinh thần mới và giao lưu, hội nhập giữa cộng đồng dân tộc và các quốc gia. Trong di sản văn hóa bao gồm cả di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể, điều này có ý nghĩa to lớn trong hành trình phát triển của mỗi địa phương, dân tộc.
Trước nguy cơ một số di sản bị mai một, mất đi, có trường hợp bị biến dạng, không giữ được các giá trị nguyên bản, đòi hỏi các nhà hoạt động giáo dục, văn hóa phải tìm cách tháo gỡ. Ngày 17/10/2003, Đại hội đồng Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc đã thông qua Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể với khẳng định vai trò tối quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể là yếu tố đưa nhân loại xích lại gần nhau hơn và đảm bảo sự giao lưu và hiểu biết lẫn nhau giữa mọi người, Năm 2013, Việt Nam được UNESCO chọn là một trong bốn quốc gia khu vực châu Á - Thái Bình Dương triển khai thí điểm việc xây dựng bài giảng minh họa sử dụng di sản văn hóa phi vật thể trong dạy học (cùng với Pakistan, Palau và Uzbekistan). Qua kinh nghiệm trong thực tế, các nhà giáo dục học khẳng định việc cho con trẻ học tập giá trị của di sản sẽ giúp con trẻ có ý thức tốt hơn trong việc bảo tồn, giữ gìn và phát huy giá trị các di sản này, và như thế các thế hệ tương lai sẽ nhận thức được vai trò của mình trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong đó có bảo tồn các giá trị của di sản văn hóa. Trên thế giới hiện nay giáo dục học sinh về giá trị của di sản văn hóa còn có một quan điểm rất đáng chú ý, đó là: Hãy coi di sản không chỉ là văn hóa mà còn là kinh tế! Và thực tế đã có “kinh tế di sản” (Heritage Economy), một thực thể và mô hình làm ăn sống động, giá trị lớn lao, một ngành kinh tế lớn đang trỗi dậy.
Paris, London, Roma, Washington và nhiều thành phố từ Tây sang Đông từ lâu rồi, và gần đây là Singapore, Hàn Quốc đã và đang thành công trong việc tôn vinh 5 những lâu đài, thành quách, phố cổ, nhà xưa. Không những thế, họ còn làm ra tiền từ những di sản kiến trúc, cảnh quan, lối sống đầy cá tính riêng trong lúc “thế giới phẳng” tưởng chừng san phẳng các dị biệt. Trong Công ước của Liên Hợp quốc về việc bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên của thế giới năm 1972 thì “Mỗi một quốc gia tham gia Công ước này công nhận rằng trách nhiệm bảo đảm của việc xác định, bảo vệ, bảo tồn, tôn tạo và truyền lại cho các thế hệ tương lai di sản văn hoá và tự nhiên nêu trong Điều1 (về di sản văn hóa) nằm trên lãnh thổ của mình, là trách nhiệm trước tiên của mình. Quốc gia này phải nỗ lực hành động tối đa cho mục đích trên bằng những nguồn lực mà mình sẵn có và nếu có, thì bằng cả sự viện trợ và hợp tác quốc tế” [5, Điều 4].
Công ước giúp các nước thành viên gắn kết việc bảo vệ di sản với chiến lược quy hoạch, phát triển địa phương. Bảo vệ bền vững không chỉ di sản thế giới mà còn bảo vệ những di sản văn hóa quốc gia. Việt Nam có bề dày lịch sử và truyền thống lâu đời với sự đóng góp, chung tay xây dựng của cộng đồng 54 dân tộc anh em. Đặc điểm “đa dạng trong thống nhất” của nền văn hóa Việt Nam đã tích lũy, ghi nhận sự tồn tại phong phú, đa dạng nhưng cũng định hình rõ nét những đặc trưng nhất của văn hóa người Việt Nam.
Một trong những hình thức thể hiện giá trị văn hóa đó chính là sự hiện diện của các di sản văn hóa còn tồn tại đến ngày nay. Đánh giá đúng vai trò, tác dụng của các di sản văn hóa đó trong công cuộc xây dựng đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp lý nhằm bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa nước nhà. Trong Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943, Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh: “Vǎn hoá mới Việt Nam là một thứ vǎn hoá có tính chất dân tộc về hình thức và tân dân chủ về nội dung” [6], từ đó định hướng xây dựng văn hóa Việt Nam mang tính dân tộc, khoa học và đại chúng. Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Giữa bộn bề công việc của đất nước trong những ngày đầu xây dựng chính quyền mới, vừa phải đối phó với thù trong giặc ngoài, tìm cách chiến đấu với giặc đói, giặc dốt, chưa đầy 3 tháng sau, ngày 23/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 65/SL ấn định nhiệm vụ cho Đông phương Bác cổ học viện nhiệm vụ bảo tồn tất cả các cổ tích trong toàn cõi Việt Nam. Điều đó cho thấy Đảng và Chính phủ đã sớm quan tâm tới việc gìn giữ các di sản văn hóa của nước nhà. 6 Trong những năm tháng chiến tranh chống Pháp, trước âm mưu phá hoại điên cuồng của kẻ thù, chúng ta vẫn cố gắng hết sức để giữ gìn các di sản văn hóa. Thất bại trong Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954, trước khi thực dân Pháp rút khỏi Hà Nội, chúng đã đặt mìn phá hủy nhiều công trình văn hóa của ta trong đó có ngôi chùa Một Cột được xây dựng ở thời nhà Lý.
Sau khi tiếp quản Hà Nội, chính quyền quyết định phục hồi ngôi chùa này. Giáo sư Nguyễn Bá Lăng - người của Sở Bảo tồn Cổ tích được giao nhiệm vụ nghiên cứu họa đồ và điều khiển công trường. Chùa Một Cột như chúng ta thấy hôm nay, được dựng lại vào năm 1955. Đó chỉ là một trong số rất nhiều các công trình văn hóa chịu ảnh hưởng bởi chiến tranh không chỉ thời chống Pháp mà cả chống Mỹ sau này nữa.
Tuy nhiên bằng nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, bằng sự trân trọng giá trị của các di sản để lại từ bao đời, chúng ta vẫn hết sức cố gắng gìn giữ và lưu truyền cho thế hệ sau. Ngày nay, di sản văn hóa đã thực sự khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong đời sống xã hội. Công tác bảo vệ và phát huy di sản văn hóa đã có một truyền thống lâu đời và nhận được sự quan tâm to lớn của Đảng và Nhà nước. Cùng với thời gian và những thăng trầm của lịch sử đất nước, công tác bảo vệ và phát huy di sản văn hóa đã để lại nhiều dấu ấn và thành quả của mình.
Trong Hiến pháp 1992 nêu rõ "Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển các di sản văn hóa, dân tộc; chăm lo công tác bảo tồn, bảo tàng, tu bổ, tôn tạo, bảo vệ và phát huy tác dụng của các di tích lịch sử, cách mạng, các di sản văn hóa, các công trình nghệ thuật, các danh lam, thắng cảnh. Nghiêm cấm các hành động xâm phạm đến các di tích lịch sử, cách mạng, các công trình nghệ thuật và danh lam, thắng cảnh" [11, Điều 34]. Tuy di sản văn hóa đã được quan tâm, gìn giữ từ khi nước nhà giành được chính quyền năm 1945 nhưng chủ yếu tập trung vào các di sản vật thể. Tiếp sau đó, Việt Nam đã bổ sung, sửa đổi Luật di sản văn hóa đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế vào năm 2009 đã khẳng định: "Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" [14.
Luật di sản văn hóa ra đời đã đánh dấu tính pháp lý thừa nhận sự tồn tại của các di sản văn hóa, các quy định về việc bảo vệ và phát huy giá trị của các di sản văn hóa trong nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, góp phần vào công cuộc xây dựng kinh tế, ổn định xã hội. Khuyến khích các cá nhân, tập thể, tổ chức trong và ngoài nước ủng hộ cho việc bảo vệ, phát huy các giá trị của di sản văn hóa; quy định về quyền và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân đối với di sản văn 7 hóa; bảo vệ và phát huy giá trị của di sản phi vật thể và vật thể ở Việt Nam; Quản lý Nhà nước về di sản văn hóa, trong đó có nêu rõ ba nguồn lực cơ bản trong bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa là từ Ngân sách nhà nước; Các khoản thu từ hoạt động sử dụng và phát huy giá trị di sản văn hóa; Tài trợ và đóng góp của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài. Luật số 10/VBHN-VBQH ngày 23/7/2013 về Luật Di sản văn hóa đã nhấn mạnh lý do ban hành là: “Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữa nước của nhân dân ta; Để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và đóng góp vào kho tàng di sản văn hóa thế giới; Để tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, nâng cao trách nhiệm của nhân dân trong việc tham gia bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa” [14, tr. Mới đây Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 109/2017/NĐ-CP quy định về bảo vệ và quản lý Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới ở Việt Nam.