phần mở đầu, phần kết luận, mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận quản lý GDĐĐ trong giáo dục nhà trƣờng. Chƣơng 2: Thực trạng của Quản lý GDĐĐ ở trƣờng PTDTNT tỉnh Điện Biên hiện nay. Chƣơng 3: Các biện pháp Quản lý GDĐĐ ở trƣờng PTDTNT tỉnh Điện Biên hiện nay. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NÓI CHUNG VÀ TRƢỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ NÓI RIÊNG 1.
Tổng quan nghiên cứu về vấn đề quản lý giáo dục đạo đức Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội thuộc kiến trúc thƣợng tầng, đƣợc hình thành và phát triển cùng với lịch sử xã hội loài ngƣời và luôn đƣợc mọi tầng lớp, mọi giai cấp, mọi thời đại, mọi quốc gia quan tâm, xem nó là động lực tinh thần để hoàn thiện nhân cách con. Các nghiên cứu nước ngoài Ở phƣơng Tây, nhà triết học Socrat (470-399-TCN) đã cho rằng đạo đức và sự hiểu biết quy định lẫn nhau. Có đƣợc đạo đức là nhờ ở sự hiểu biết, do vậy chỉ sau khi có hiểu biết mới trở thành có đạo đức. Aristoste (384-322-TCN) cho rằng không phải hy vọng vào Thƣợng đế áp đặt để có ngƣời công dân hoàn thiện về đạo đức, mà việc phát hiện nhu cầu trên trái đất mới tạo nên đƣợc con ngƣời hoàn thiện trong quan hệ đạo đức.
Ở phƣơng Đông từ thời cổ đại, Khổng Tử (551-479-TCN ) trong các tác phẩm: “Dịch, Thi, Thƣ, Lễ, Nhạc Xuân Thu” rất xem trọng việc GDĐĐ. Chuyên gia giáo dục Bassey Ubong (Nigeria) trong bài viết “Triết lý giáo dục và những ảnh hưởng của nó đối với sự phát triển của quốc gia” đã dẫn lời nhà nghiên cứu giáo dục F. Kerlinger (1951) nhận định giáo dục Nhật Bản sau thời Minh Trị, rõ nhất là từ giữa thế kỷ 20 cho đến tận nay, vẫn vận hành theo triết lý “shữshin”. Hiểu nôm na, “shữshin” đƣợc gói gọn trong từ “đạo đức” - trung tâm của giáo dục kiến thức, đời sống, sinh hoạt, kỹ năng làm việc của ngƣời Nhật.
Nhà giáo Nguyễn Quốc Vƣơng, ĐH Sƣ phạm Hà Nội, trong bản dịch Luật giáo dục cơ bản (đƣợc Quốc hội Nhật Bản ban hành lần đầu năm 1947 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và sửa đổi năm 2006) đã chỉ ra triết lý “đạo đức làm nền tảng trong giáo dục” của ngƣời Nhật đƣợc mô tả: “Cần phải nhắm tới thực hiện xã hội ở đó từng quốc dân có thể mài giũa nhân cách bản thân. Tuy nhiên, triết lý giáo dục “đạo đức” không còn là đào tạo ngƣời trung quân ái quốc. Chuyên gia giáo dục Bassey Ubong còn cắt nghĩa “đạo đức” trong triết lý giáo dục ngƣời Nhật ngày nay chính là tính kỷ luật trong đời sống, sinh hoạt và làm việc. Bassey Ubong mô tả “Đạo đức còn có nghĩa là ý thức tuân thủ kỷ luật cao độ đƣợc phản ánh thông qua quan niệm xem giáo dục là một con đƣờng dẫn đến cuộc sống tốt đẹp hơn.
Từ đó thanh niên tích cực học tập, tuân theo các chuẩn mực về tôn trọng mọi ngƣời xung quanh và tham gia đóng góp nhằm giảm thiểu tỉ lệ thất nghiệp, ai nấy đều tốt nghiệp và có việc làm”.Các nghiên cứu trong nước Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Có tài mà không có đức thì là ngƣời vô dụng”. Ngƣời coi trọng mục tiêu, nội dung GDĐĐ trong các nhà trƣờng nhƣ: “Đoàn kết tốt”, “Kỷ luật tốt”, “Khiêm tốn, thật thà dũng cảm”, “Con ngƣời cần có bốn đức: cần - kiệm - liêm - chính, mà nếu thiếu một đức thì không thành ngƣời”. Kế thừa tƣ tƣởng của Ngƣời, có rất nhiều tác giả nƣớc ta đã nghiên cứu về vấn đề này nhƣ: Phạm Minh Hạc, Hà Thế Ngữ, Nguyễn Đức Minh, Phạm Khắc Chƣơng, Trần Văn Chƣơng, Phạm Hoàng Gia, Phạm Tất Dong, Võ Huỳnh Ngọc Vân, Phạm Trung Thanh và nhiều tác giả khác. Trong tài liều bồi dƣỡng thƣờng xuyên chu kỳ 1997 – 2000 cho GV THPT: “Đạo đức học” các tác giả Phạm Khắc Chƣơng và Trần Văn Chƣơng đã phân tích quá trình phát triển tâm sinh lý của HS THPT, về tình bạn, tình yêu, khẳng định đại đa số HS hiếu học, ngoan ngoãn, thông minh và chỉ có một bộ phận HS hƣ mà ngƣời có lỗi lại chính là ngƣời lớn chúng ta.
Trong 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chƣơng VI đề cập một số vấn đề quan tâm trong giảng dậy và GDĐĐ HS, trong đó các tác giả xây dựng chuẩn mực về đạo đức mới trong gia đình, trong học tập, trong tình bạn, tình yêu và trong giao tiếp. Trong chƣơng VII đề cập đến việc học tập, tu dƣỡng đạo đức theo gƣơng cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đặc biệt trong chƣơng VIII các tác giả đề xuất một số phƣơng pháp giảng dạy và GDĐĐ cho HS trong nhà trƣờng THPT bằng một số nhóm phƣơng pháp cụ thể và bằng hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cũng nhƣ mối quan hệ giữa các phƣơng pháp đó. Tác giả Thái Duy Tuyên trong công trình nghiên cứu của mình: “Những vấn đề cơ bản của giáo dục hiện đại” [32] trong phần đánh giá về thực trạng đã tỏ ra rất lo lắng trƣớc sự sa sút về đạo đức ngày càng gia tăng cả về số lƣợng lẫn chất lƣợng và mức độ nguy hại của một bộ phận HS.
Tác giả kết luận ĐĐHS đang trên đà giảm sút và cho rằng GDĐĐ là nhiệm vụ quan trọng của toàn xã hội đông thời cũng kiến nghị cần đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu về GDĐĐ. Trong tác phẩm: “Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá” [15] của một nhóm tác giả do GS.VS Phạm Minh Hạc làm chủ biên, trong chƣơng VII nói về định hƣớng chiến lƣợc xây dựng đạo đức con ngƣời Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng đã đánh giá thực trạng ĐĐHS, sinh viên hiện nay có một khoảng cách khá xa mới tiếp cận đƣợc với mục tiêu giáo dục giá trị đạo đức so với yêu cầu của thời kỳ mới. Trong cuốn: “ Văn hoá với thanh niên – Thanh niên với văn hoá” [4] do Ban tƣ tƣởng – Văn hoá Trung ƣơng biên soạn tập hợp các bài viết của nhiều tác giả, trong đó tác giả Hà Nhật Thăng trong bài viết của mình đã nêu lên thực trạng đạo đức, tƣ tƣởng chính trị, lối sống của thanh niên, HS, sinh viên hiện nay và đi đến nhận định: Trong HS, sinh viên có sự phân hoá khá rõ 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com rệt, tỷ lệ giữa các nhóm có đạo đức tốt, chậm tiến, bình thƣờng có sự chênh lệch khá lớn. Tuy nhiên các giá trị đạo đức, tƣ tƣởng chính trị, lối sống đƣợc đa số HS, sinh viên quan tâm vẫn là các giá trị đạo đức cốt lõi của nhân cách con ngƣời Việt Nam; cũng có những giá trị mới do yêu cầu của CNH, HĐH chƣa đƣợc HS, sinh viên coi trọng.
Tóm lại, những giá trị truyền thống của dân tộc vẫn đƣợc số đông HS, sinh viên coi trọng tuy vẫn chƣa thể hiện qua hành vi hoạt động. Một bộ phận không nhỏ (khoảng 1/3 HS, SV) có sự giao động về nhận thức có hành vi sai trái liên quan tới một số giá trị quan trọng nhƣ: Trung thực, thẳng thắn, tinh thần trách nhiệm, lòng nhân ái. Tác giả nêu 4 nguyên nhân, có thể khái quát lên là công tác GDĐĐ còn chƣa đƣợc coi trọng đúng mức, chƣa đồng bộ. Qúa trình giáo dục còn nặng về kết quả học tập văn hoá, coi nhẹ việc rèn luyện đạo đức, hình thức giáo dục còn khô cứng, áp đặt, không phù hợp tâm lý lứa tuổi.
Từ thực trạng và nguyên nhân trên, tác giả đề xuất 8 giải pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lƣợng GDĐĐ cho HS, sinh viên. Trong công trình nghiên cứu về công tác GDĐĐ cho HS, các tác giả Lê Trung Trấn – Nguyễn Dục Quang đề nghị phải đổi mới hoạt động GDĐĐ theo nguyên tắc phù hợp với sự phát triển mới và yêu cầu của xã hội, giáo dục có hệ thống, tiếp cận phức hợp và xuất phát từ HS. Điểm lại các công trình nghiên cứu trên đây, mặc dù có những quan điểm chƣa thống nhất nhƣng tựu chung các tác giả đều khẳng định: Đa số HS, sinh viên có phẩm chất đạo đức và lối sống tốt, ham hiểu biết, ham học hỏi, tôn trọng đạo lý, vẫn giữ gìn đƣợc bản sắc và truyền thống văn hoá của dân tộc, mặc dù nhận thức và hành động còn nhiều chỗ chƣa đạt những chuẩn mực đạo đức hiện nay. Đặc biệt đáng lo ngại là một bộ phận thanh niên, HS sa sút về phẩm chất đạo đức, chạy theo lối sống thực dụng, coi thƣờng luân thƣờng đạo lý, phai nhạt lý tƣởng XHCN, vi phạm pháp luật và sa vào các tệ 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nạn xã hội, có các hành vi xa lạ với chuẩn mực đạo đức và truyền thống văn hoá của dân tộc…có chiều hƣớng phức tạp và ngày càng gia tăng.
Các công trình nghiên cứu về GDĐĐ cho HS khá nhiều nhƣng chƣa cụ thể và không phù hợp với hoàn cảnh thực tế của từng nhà trƣờng ở các địa phƣơng có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau. Hơn nữa trong bối cảnh hiện nay, khi chúng ta đang thực hiện công cuộc đổi mới, mở cửa hội nhập quốc tế ngày càng rộng rãi trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và sự tác động của hoàn cảnh kinh tế – xã hội lên đời sống tâm lý của mỗi con ngƣời, nhất là lớp trẻ ngày càng tăng, từ đó công tác GDĐĐ cho thanh, thiếu niên càng trở lên cấp thiết. Hiện nay khi chúng ta gia nhập tổ chức thƣơng mại thế giới WTO thì nhu cầu nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của CNH – HĐH đất nƣớc đặt ra vô cùng gay gắt, khi mà cạnh tranh quốc tế ngày càng trở lên quyết liệt. Nguồn nhân lực mới đòi hỏi vừa phải có trình độ Khoa học – Công nghệ và tay nghề cao , vừa phải có đạo đức trong sáng, kiên định lý tƣởng XHCN, yêu nƣớc, có lòng nhân đạo cao cả, ân nghĩa, biết yêu thƣơng con ngƣời… Tóm lại nguồn nhân lực mới phải phát triển toàn diện cả “Đức và Tài”, “Vừa hồng lại vừa chuyên”.
Một điều khiến chúng ta trăn trở là: Tại sao trong những năm gần đây, bên cạnh những thành tựu chúng ta đạt đƣợc về mặt kinh tế thì tiêu cực và tệ nạn xã hội ngày càng diễn biến phức tạp, sự xuống cấp về mặt đạo đức của một bộ phận thanh niên HS ngày càng gia tăng?