Chương I: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học phổ thông. Chương II: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường THPT huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên hiện nay. Chương III: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường THPT huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên trong giai đoạn hiện nay. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề Đạo đức là hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những nguyên tắc, qui định, chuẩn mực nhằm định hướng con người tới các chân - thiện - mỹ, chống lại cái giả, cái ác, cái xấu. Đạo đức nảy sinh do nhu cầu đời sống xã hội, là sản phẩm của lịch sử xã hội, do cơ sở kinh tế - xã hội quyết định. Từ xa xưa, đạo đức và GDĐĐ cho con người nói chung và cho học sinh nói riêng đã trở thành vấn đề được quan tâm và đánh giá cao. Các nghiên cứu ở nước ngoài Ở phương Đông, Khổng Tử (551- 479 TCN) trong các tác phẩm “Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc Xuân Thu” đã rất xem trọng việc giáo dục đạo đức cho con người.
Ông coi Nhân là gốc rễ của các đức khác và các đức tụ ở cả Nhân. Ở phương Tây, nhà triết học Socrat (470 -399 TCN) đã cho rằng đạo đức và sự hiểu biết quy định lẫn nhau, có được đạo đức là nhờ sự hiểu biết, chỉ sau khi có hiểu biết mới trở thành có đạo đức. Vì vậy, giáo dục con người chủ yếu là phải GDĐĐ. Aristoste (384-322 TCN) khẳng định: Phải giáo dục con người về đạo đức để phát triển ý chí, giảng dạy văn hóa để phát triển lý trí, giảng dạy thể dục thể thao để phát triển thể lực; tương ứng ở nhà trường phải thực hiện đức dục, trí dục và thể dục.
Học thuyết Mác - Lê nin khẳng định: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã hội; nó phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội. Đạo đức mang tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc. Nhà trường trong mọi chế độ xã hội đều giáo dục đạo đức cho học sinh.Komenxki (1592-1670) đã đúc kết “Một số qui tắc trong ứng xử” để giảng dạy cho thanh thiếu niên. Ông đặc biệt quan tâm đến phương pháp nêu gương trong GDĐĐ cho học sinh.
Sau Komenski có nhiều nhà giáo dục đã nghiên cứu và bàn về vấn đề đạo đức, nhân cách học sinh, như Jean Jacques Russeau (1712-1778), Petxtalogi (1746- 1827). 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thế kỷ XX, một số nhà giáo dục nổi tiếng Xô Viết cũng nghiên cứu về giáo dục đạo đức học sinh, các nghiên cứu của họ đã đặt nền tảng cho việc giáo dục đạo đức mới trong giai đoạn xây dựng CNXH ở Liên Xô. Các nghiên cứu ở trong nước Ở Việt Nam, vấn đề GDĐĐ đã và đang trở thành mối quan tâm của các nhà sư phạm nói chung và các nhà quản lý giáo dục nói riêng. Trong các văn kiện của Đảng cộng sản Việt Nam đã thường xuyên thể hiện sự quan tâm đến đề tài xây dựng con người Việt Nam, đặc biệt là đạo đức của con người Việt Nam qua từng thời kỳ.
GDĐĐ cho học sinh là bộ phận quan trọng có tính chất nền tảng của giáo dục trong nhà trường xã hội chủ nghĩa “Dạy cũng như học, phải chú trọng cái tài lẫn đức. Đức là đạo đức cách mạng, đó là cái gốc rất quan trọng” (Hồ Chí Minh. Bài nói chuyện với cán bộ, học sinh trường Đại học sư phạm Hà Nội, ngày về thăm trường 21/10/1964) [27]. Người nói: “Có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó, có tài mà không có đức thì là người vô dụng” Theo Bác “Người có bốn đức: cần - kiệm - liêm - chính… Thiếu một đức thì không thành người” [27, tr.
Người cũng lưu ý: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời rơi xuống mà do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà có, cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong” [29, tr. Hiện tại ở nước ta đã có nhiều tác giả nghiên cứu về đạo đức và GDĐĐ như: GS-TS Hà Thế Ngữ, GS-TS Đặng Vũ Hoạt đã đề cập đến vai trò, vị trí và ý nghĩa của GDĐĐ cho học sinh với giáo trình: Giáo dục học tập 1 và tập 2 - NXBGD - Hà Nội (1999). Các tác giả như GS Hoàng Đức Nhuận, GS-TS Phạm Minh Hạc đã nghiên cứu định hướng giá trị đạo đức con người Việt Nam trong thời kỳ Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước. PGS-TS Phạm Khắc Chương với đóng góp về lý luận đạo đức trong nhà trường hiện nay với tác phẩm: Chỉ nam nhân cách học trò - NXBTN - Hà Nội (1998).
“Đạo đức học” - NXBGD - Hà Nội (2000). PGS-TS Đặng Quốc Bảo với: Một số ý kiến về nhân cách thế hệ trẻ, thanh niên, sinh viên và phương pháp giáo dục (Học viện QLGD – Hà Nội). TS Nguyễn Minh Đức (1990) về: Đổi mới quản lý giáo dục một số vấn đề lí luận và thực tiễn. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, GDĐĐ là yêu cầu khách quan của sự nghiệp “trồng người”, nó giúp đào tạo ra thế hệ vừa “hồng” vừa “chuyên” nhằm phục vụ sự nghiệp Công nhiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước.
Do vậy, đối với những người làm công tác QLGD, việc quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh phổ thông vẫn luôn đặt ra nhiều vấn đề cần nghiên cứu, nhất là trong tình hình xã hội hiện nay. Đã có nhiều luận văn thạc sỹ quản lý giáo dục nghiên cứu vấn đề quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh. Các luận văn đó đã chỉ ra thực trạng về đạo đức học sinh, thực trạng GDĐĐ và QL hoạt động này trong các loại hình nhà trường ở nhiều địa phương khác nhau và đã đề ra những biện pháp QL hoạt động GDĐĐ đảm bảo tính khoa học, toàn diện, hiệu quả và khả thi ở các đơn vị, địa phương đó. Kế thừa và phát triển các nội dung những tác giả đi trước đã nghiên cứu, đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường THPT huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên trong giai đoạn hiện nay” được tổ chức triển khai nghiên cứu với mục đích sẽ góp phần tìm ra các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường THPT thuộc miền núi phù hợp với đối tượng, đúng mục đích, hiệu quả và khả thi, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay.
Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lí Thuật ngữ “quản lý” (từ Hán Việt) gồm hai quá trình tích nhau. Quá trình “quản” gồm coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái “ổn định”. Quá trình “lý” gồm sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ thống (tổ chức) vào thế “phát triển”.
Nếu chỉ “quản” thì tổ chức dễ trì trệ, nếu chỉ “lý” thì tổ chức phát triển không bền vững. Do đó trong “quản” phải có “lý” và ngược lại để làm cho hệ thống ở trạng thái cân bằng động, vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong môi trường tương tác giữa các nhân tố bên trong và các nhân tố bên ngoài tổ chức. Quản lý là sự điều khiển một hệ thống hoạt động xã hội ở tầm vĩ mô cũng như vi mô vì vậy có nhiều cách tiếp cân khác nhau, ở mỗi cách tếp cận có những định nghĩa khác nhau. Mác đã lột tả bản chất quản lý là nhằm thiết lập sự phối hợp giữa những công việc cá nhân và thực hiện những chức năng chung, nảy sinh từ sự vận động 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của toàn bộ cơ thể sản xuất, khác với sự vận động của các bộ phận riêng lẻ của nó.
Một người chơi vĩ cầm riêng lẻ tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần người chỉ huy Còn theo H.Koontz “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được mục đích của tổ chức. Mục đích của mọi nhà quản lý là hình thành môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của mình với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [12, tr.Taylor (1856-1915), người được coi là cha đẻ của thuyết quản lý khoa học đã nêu lên tư tưởng cốt lõi trong quản lý là: “Mọi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hóa và phải quản lý chặt chẽ”. Theo ông: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và cái đó làm thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”. Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm cho tổ chức vận hành và đạt mục đích của tổ chức” [12, tr.
Tóm lại, các khái niệm quản lý trên tuy được trình bày khác nhau nhưng đều thống nhất về vấn đề cốt lõi của QL như: QL được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội, là những tác động có tính hướng đích, có mục tiêu, có các hoạt động tương ứng nhằm thực hiện được mục tiêu của tổ chức. QL tồn tại với tư cách là một hệ thống gồm chủ thể quản lý, khách thể quản lý, cơ chế quản lý và mục tiêu chung. Từ đó, có thể hiểu QL theo nghĩa chung nhất như sau: Quản lý là hoạt động của chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý thông qua việc vận dụng các chức năng lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch và kiểm tra đánh giá hiệu quả đạt được theo mục tiêu đã đề ra để đảm bảo cho tổ chức ổn định và phát triển lâu dài. Quản lí giáo dục Như bất kỳ một lĩnh vực hoạt động xã hội nào, giáo dục cũng được tổ chức và quản lý với cấp độ khác nhau (nhà nước, nhà trường, lớp học.) nhằm thực hiện có hiệu quả các mục tiêu giáo dục phù hợp với từng giai đoạn phát triển của các thể chế 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chính trị - xã hội ở từng quốc gia.