CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Cộng đồng và du lịch 1. Cộng đồng Có nhiều quan niệm khác nhau về cộng đồng, cụ thể như sau: Bùi Thị Hải Yến (2016), “Tài nguyên du lịch”, NXB Giáo dục: Cộng đồng là đời sống kinh tế xã hội trên một khu vực địa lý, có các tâm lợi ích và hoạt động chung và được nhận dạng bởi sự gắn kết xã hội.
Phạm Bích Thủy (2015), “Du lịch cộng đồng”, NXB Giáo dục: Cộng đồng là một tập hợp các nhóm người có chung địa bàn cư trú và có quyền sử dụng các tài nguyên ở địa phương. Trần Thị Minh Hòa (2018), “Kinh tế du lịch”, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân: Cộng đồng là một tập đoàn người rộng lớn, có những dấu hiệu chung về thành phần giai cấp, về nghề nghiệp, về địa điểm sinh tụ và cư trú. Tóm lại: Cộng đồng được hiểu là một nhóm dân cư cùng sinh sống trên một lãnh thổ nhất định, được gọi tên như làng, xã, huyện, thị, tỉnh, thành phố, quốc gia… có những dấu hiệu chung về nghề nghiệp, truyền thống văn hóa, đặc điểm xã hội. Du lịch Có nhiều quan niệm khác nhau về du lịch, cụ thể như sau: Theo điển bách khoa quốc tế về du lịch năm 2017: Du lịch là tập hợp các hoạt động tích cực của con người nhằm thực hiện một dạng hành trình, là một công nghiệp liên kết nhằm thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch.
Du lịch là cuộc hành trình mà một bên là người khởi hành với mục đích đã được chọn trước và một bên là những công cụ làm thỏa mãn các nhu cầu của họ. Theo Tổ chức du lịch thế giới: Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành tạm trú với mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn cũng như mục đích hành 7 nghề và những mục đích khác nữa trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm ở bên ngoài môi trường sống định cư nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền. Theo Liên hiệp quốc tế các tổ chức lữ hành chính thức: Du lịch là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống. Tóm lại: Du lịch là tập hợp các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên và không dính dáng đến hoạt động kiếm lời.
Tài nguyên du lịch và quản lý tài nguyên du lịch cộng đồng 1. Tài nguyên Du lịch cộng đồng (1) Tài nguyên du lịch Quốc hội (2015),” Luật du lịch Việt Nam năm 2015”, NXB Tư pháp: Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”. Phạm Bích Thủy (2015), “Du lịch cộng đồng”, NXB Giáo dục: Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và văn hoá – lịch sử cùng các thành phần của chúng góp phần khôi phục và phát triển thể lực và trí lực của con người, khả năng lao động và sức khoẻ của họ, những tài nguyên này được sử dụng để tạo ra các sản phẩm du lịch , phục vụ nhu cầu trực tiếp và gián tiếp của khách đi du lịch. Ngô Bình Hoa (2019), “Du lịch cộng đồng”, NXB Giáo dục: Tài nguyên du lịch là tất cả những gì thuộc về tự nhiên và các giá trị văn hoá do con người sáng tạo ra có sức hấp dẫn du khách, có thể được bảo vệ, tôn tạo và sử dụng cho ngành du lịch mang lại hiệu quả về kinh tế xã hội và môi trường.
Tóm lại: Tài nguyên du lịch là những tổng thể tự nhiên, văn hoá lịch sử và những thành phần của chúng. Hiện tại có 2 dạng tài nguyên du lịch: tài nguyên du lịch vật thể và tài nguyên du lịch phi vật thể. Chúng được khai thác phục vụ du 8 khách, tạo điều kiện cho việc phục hồi và phát triển thế lực tinh thần của con người, cải thiện khả năng lao động và sức khoẻ của họ. Trong cấu trúc nhu cầu du lịch hiện tại và tương lai, trong khả năng kinh tế, kỹ thuật cho phép, chúng được dùng để trực tiếp và gián tiếp tạo ra những dịch vụ du lịch và nghỉ ngơi.
(2) Tài nguyên Du lịch cộng đồng Du lịch cộng đồng (Tiếng Anh: Community Based Tourism) hay còn được biết đến với tên gọi là du lịch dựa vào cộng đồng đang được biết đến như một giải pháp của sự phát triển bền vững. Nguồn gốc thuật ngữ du lịch cộng đồng được cho là xuất phát từ hình thức du lịch làng bản từ những năm 1970. Du lịch dựa vào cộng đồng đã được hình thành và phát triển tại các quốc gia khu vực châu Phi, Mỹ La Tinh, châu Úc vào thập kỷ 80 và 90 của thế kỷ XX. Tùy theo góc nhìn và quan điểm nghiên cứu khác nhau, có rất nhiều quan điểm về khái niệm về du lịch cộng đồng được đưa ra trên thế giới và cả tại Việt Nam.
Một số khái niệm nổi bật như sau: Theo nhà nghiên cứu Nicole Hausle và Wollfgang Strasdas (2009), du lịch dựa vào cộng đồng là loại hình du lịch mà sự phát triển và quản lý chủ yếu dựa vào nguồn lực là người dân địa phương. Đồng thời, lợi ích kinh tế có được từ hoạt động du lịch cộng đồng sẽ được giữ lại cho nền kinh tế địa phương. Theo Responsible Ecological Social Tours Project (REST), du lịch cộng đồng là phương thức du lịch có tính đến tính bền vững về môi trường và văn hóa xã hội. Nó được quản lý và sở hữu bởi cộng đồng, vì cộng đồng, với mục đích tạo điều kiện cho du khách nâng cao nhận thức và tìm hiểu về cộng đồng và cách sống của địa phương.
Tại Việt Nam, một số định nghĩa nổi bật về khái niệm du lịch cộng đồng cụ thể như sau: Theo Tiến sĩ Võ Quế, du lịch cộng đồng là phương thức phát triển du lịch mà trong đó cộng đồng dân cư địa phương sẽ đứng ra tổ chức và chịu trách nhiệm cung cấp các loại dịch vụ du lịch. Đồng thời chính họ cũng sẽ tham gia vào công tác bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường và văn hóa địa phương. Hơn nữa, chính cộng 9 đồng địa phương sẽ được hưởng các quyền lợi về cả vật chất và tinh thần từ việc phát triển du lịch và bảo tồn thiên nhiên. Từ việc xem xét các khái niệm trên, ta có thể rút ra kết luận du lịch cộng đồng là hoạt động du lịch bền vững cho phép du khách kết nối chặt chẽ với cộng đồng địa phương mà họ đến thăm.
Loại hình du lịch này dựa vào cộng đồng địa phương để mang lại cho du khách những trải nghiệm đa dạng về phong tục, tín ngưỡng, văn hóa và tương tác với cộng đồng địa phương. Từ đó giúp du khách có được cái nhìn sâu sắc về văn hóa và cuộc sống hàng ngày của họ. Cộng đồng sẽ trực tiếp tham gia vào hoạt động du lịch như khai thác, quản lý và bảo tồn nguồn tài nguyên và đồng thời, cộng đồng cũng sẽ được hưởng lợi từ hoạt động du lịch. Hay nói cách khác, lợi ích kinh tế của du lịch nằm trong cộng đồng của họ để từ những lợi ích đó sẽ góp phần làm giảm tỷ lệ nghèo đói, cải thiện thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Có nhiều quan niệm khác nhau về Tài nguyên Du lịch cộng đồng, cụ thể như sau: Theo Quỹ bảo tồn Thiên nhiên thế giới WWF: Tài nguyên Du lịch dựa vào cộng đồng là loại hình tài nguyên mà ở đó CĐĐP có sự kiểm soát và tham gia chủ yếu vào sự phát triển và quản lý các hoạt động du lịch và phần lớn lợi nhuận thu được từ hoạt động du lịch được giữ lại cho cộng đồng. Theo quỹ phát triển Châu Á: Tài nguyên Du lịch dựa vào cộng đồng một loại hình tài nguyên do chính cộng đồng người dân phối hợp tổ chức, quản lý và làm chủ để đem lại lợi ích kinh tế và bảo vệ được môi trường chung thông qua việc giới thiệu với du khách các nét đặc trưng của địa phương. Ngô Bình Hoa (2019), “Du lịch cộng đồng”, NXB Giáo dục: Tài nguyên Du lịch dựa vào cộng đồng một hình thái du lịch trong đó chủ yếu là người dân địa phương đứng ra phát triển và quản lý. Tóm lại: Tài nguyên Du lịch dựa vào cộng đồng một loại hình tài nguyên do chính cộng đồng người dân phối hợp tổ chức, quản lý và làm chủ để đem lại lợi ích kinh tế và bảo vệ được môi trường chung thông qua việc giới thiệu với du khách các nét đặc trưng của địa phương.
Quản lý tài nguyên du lịch dựa vào cộng đồng (1) Khái niệm Quản lý tài nguyên du lịch dựa vào cộng đồng Để đưa ra khái niệm về Quản lý du lịch dựa vào cộng đồng, ta tìm hiểu khá niệm về Quản lý du lịch, cụ thể như sau: Lương Hồng Quang (2010), “Phát triển cộng đồng”, NXB Văn hóa Thông tin: Quản lý du lịch là hoạt động của các cơ quan nhà nước thuộc hệ thống cơ quan hành pháp thực hiện chức năng của mình thông qua sử dụng các công cụ quản lý như chính sách, pháp luật, bộ máy và các nguồn lực khác để tổ chức và thực hiện các hoạt động trong lĩnh vực du lịch nhằm thực hiện mục tiêu quản lý đã đề ra. Bùi Thị Hải Yến (2016), “Tài nguyên du lịch”, NXB Giáo dục: Quản lý du lịch là phương thức nhà nước sử dụng pháp luật tác động vào đối tượng hoạt động du lịch để định hướng hoạt động này vận động, phát triển đạt được mục đích xác định. Trần Thị Minh Hòa (2018), “Kinh tế du lịch”, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân: Quản lý du lịch là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực pháp luật nhà nước đối với các quá trình, các hoạt động du lịch của con người để duy trì và phát triển ngày càng cao các hoạt động du lịch trong nước và du lịch quốc tế nhằm đạt được các hiệu quả kinh tế xã hội mà nhà nước đặt ra.