CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại dự án đầu tư xây dựng 1. Khái niệm về dự án Theo định nghĩa của tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá ISO, trong tiêu chuẩn ISO 9000 : 2000 và theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN ISO 9000 : 2000) thì dự án được định nghĩa như sau: “Dự án là một quá trình đơn nhất, gồm một tập hợp các hoạt động có phối hợp và được kiểm soát, có thời hạn bắt đầu và kết thúc, được tiến hành để đạt được một mục tiêu phù hợp với các yêu cầu quy định, bao gồm cả các ràng buộc về thời gian, chi phí và nguồn lực.” Có thể nói, dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cụ thể cần phải được thực hiện với từng phương pháp và nguồn lực riêng, theo một kế hoạch tiến độ xác định. Mục 17, Điều 3, Luật Xây dựng năm 2003 định nghĩa: “Dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định”.
“Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dước mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế. Đặc điểm của dự án xây dựng Dự án xây dựng có một số đặc trưng cơ bản sau: 5 z Mục đích cuối cùng của dự án xây dựng là công trình xây dựng hoàn thành đảm bảo các mục tiêu đã đặt ra về thời gian, chi phí, chất lượng, an toàn, vệ sinh và bảo vệ môi trường.Sản phẩm của dự án xây dựng là công trình xây dựng, nó mang tính đơn chiếc, độc đáo và không phải là sản phẩm của một quá trình sản xuất liên tục, hàng loạt. Dự án xây dựng có chu kì riêng (vòng đời) trải qua các giai đoạn hình thành và phát triển, có thời gian tồn tại hữu hạn, nghĩa là có thời điểm bắt đầu khi xuất hiện ý tưởng về xây dựng công trình dự án và kết thúc khi công trình xây dựng hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng, hoặc (hiểu theo nghĩa rộng của từ quản lý dự án), khi công trình dự án hết niên hạn khai thác và chấm dứt tồn tại. Có nhiều chủ thể tham gia vào dự án xây dựng, bao gồm: chủ đầu tư/chủ công trình, đơn vị thiết kế, đơn vị giám sát, đơn vị thi công, nhà cung ứng.Các chủ thể này có mối quan hệ mang tính đối tác lại và có lợi ích khác nhau.
Do vậy, môi trường làm việc của dự án xây dựng mang tính đa phương và dễ xảy ra xung đột quyền lợi giữa các chủ thể. Dự án xây dựng luôn bị hạn chế bởi một số nguồn lực như sau: tiền vốn, nhân lực, công nghệ, kỹ thuật, vật tư thiết bị.kể cả thời gian (thời hạn cho phép). Dự án xây dựng có tính bất định và rủi ro cao do các dự án thường có vốn đầu tư lớn, thời gian thực hiện dài. Phân loại dự án xây dựng Việc phân loại dự án có ảnh hưởng quyết định đến nhiều vấn đề trong quản lý dự án, đó là: (i) phân cấp quản lý, xác định chủ đầu tư, phê duyệt, cấp phép xây dựng; (ii) trình tự thực hiện các hoạt động xây dựng (trình tự lập dự án, trình tự thiết kế, trình tự lựa chọn nhà thầu; (iii) hình thức quản lý dự án; (iv) thời hạn bảo hành công trình và (v) bảo hiểm công trình xây dựng.
6 z Các dự án xây dựng được phân loại như sau: a) Theo tính chất và quy mô và tính chất: dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội xem xét, quyết định về chủ trương đầu tư; các dự án còn lại được phân thành 3 nhóm A, B, C theo quy định. b) Theo nguồn vốn đầu tư : - Dự án sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước; - Dự án sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước ; - Dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước ; - Dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân hoặc sử dụng hỗn hợp nhiều nguồn vốn. Cơ sở lý luận về quản lý dự án đầu tư xây dựng “Tất cả các dự án đều giống như một cơ thể sống và trải qua một số giai đoạn phát triển nhất định. Để đưa dự án qua các giai đoạn đó, đương nhiên ta phải, bằng cách này hoặc cách khác, quản lý được nó (dự án).
Trong lịch sử phát triển, có thể nói loài người đã quản lý và đạt được thành công những “dự án” còn lưu lại đến tận ngày nay. Có thể kể ra đây những “dự án” như Kim tự tháp Ai Cập, Vạn Lý trường thành Trung Quốc. Từ những năm 50 của thế kỷ XX, sự cần thiết của một hệ thống phương pháp luận độc lập về quản lý dự án đã được nhận thức ở các nước phát triển phương Tây. Bắt đầu từ lĩnh vực quân sự, dần dần quản lý dự án được ứng dụng rộng rãi trong các lính vực kinh tế xã hội khác.
Ngày nay, ở tất cả các nước phát triển, quản lý dự án được công nhận như một hệ thống phương pháp luận của hoạt động đầu tư. 7 z Ở Việt Nam, công cuộc xây dựng đất nước được đánh dấu bằng hàng loạt các dự án lớn nhỏ, ở khắp mọi vùng miền, khắp các lĩnh vực, khắp các cấp quản lý. Chính vì lý do đó, việc nghiên cứu hệ thống phương pháp luận quản lý dự án mang ý nghĩa cực kì quan trọng, nó góp phần nâng cao hiệu quả của công cuộc xây dựng đất nước, nhanh chóng đưa nước ta đến đích trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Khái niệm quản lý dự án xây dựng “Quản lý dự án xây dựng là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn; trong phạm vi ngân sách được duyệt; đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật, chất lượng; đảm bảo an toàn lao động, bảo vệ môi trường bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép.
Nguyên tắc quản lý dự án xây dựng Một số nguyên tắc của quản lý dự án xây dựng là: - Việc đầu tư xây dựng công trình phải luôn phù hợp với các quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật khác có liên quan; phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội, quy hoạch ngành, quy hoạch xây dựng, bảo đảm an ninh, an toàn xã hội và an toàn môi trường. - Tuỳ theo nguồn vốn sử dụng cho dự án, Nhà nước quản lý dự án theo quy định sau đây: a) Đối với các dự án sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước kể các dự án thành phần, Nhà nước quản lý toàn bộ quá trình đầu tư xây dựng từ việc xác định chủ trương đầu tư, lập dự án, quyết định đầu tư, lập thiết kế, dự toán, lựa chọn nhà thầu, thi công xây dựng đến khi nghiệm thu, bàn giao và đưa công trình vào khai thác sử dụng; 8 z b) Đối với dự án của doanh nghiệp sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước; Nhà nước quản lý về chủ trương và quy mô đầu tư, doanh nghiệp có dự án tự chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện và quản lý dự án ; c) Đối với các dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân, chủ đầu tư tự quyết định hình thức và nội dung quản lý dự án. Đối với các dự án sử dụng hỗn hợp nhiều nguồn vốn khác nhau thì các bên góp vốn thoả thuận về phương thức quản lý hoặc quản lý theo quy định đối với nguồn vốn có tỷ lệ phần trăm (%) lớn nhất trong tổng mức đầu tư. - Đối với dự án quan trọng quốc gia hoặc dự án nhóm A gồm nhiều dự án thành phần, nếu từng dự án thành phần có thể độc lập vận hành, khai thác hoặc thực hiện theo phân kỳ đầu tư thì mỗi dự án thành phần có thể được quản lý, thực hiện như một dự án độc lập.
Việc phân chia dự án thành các dự án thành phần do người quyết định đầu tư quyết định. Mục tiêu của quản lý dự án đầu tư xây dựng Mục tiêu của quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình là đảm bảo được mục đích đầu tư hay lợi ích mong muốn của chủ đầu tư. Trong mỗi giai đoạn của quá trình đầu tư xây dựng công trình, quản lý dự án có các mục tiêu cụ thể khác nhau. Chẳng hạn, đối với giai đoạn chuẩn bị đầu tư, mục tiêu của QLDA là phải đảm bảo lập ra một dự án có các giải pháp kinh tế - kỹ thuật mang tính khả thi; giai đoạn thực hiện dự án, mục tiêu đó là phải đảm bảo tạo ra được tài sản cố định có tiêu chuẩn kỹ thuật đúng thiết kế; với giai đoạn khai thác vận hành, mục tiêu đó là phải đảm bảo đạt được các chỉ tiêu hiệu quả của dự án về tài chính, kinh tế, xã hội, theo dự kiến của chủ đầu tư.
Các mục tiêu cụ thể khi quản lý đầu tư xây dựng công trình bao gồm: mục tiêu về chất lượng công trình xây dựng; mục tiêu về chi phí; mục tiêu về 9 z thời gian thực hiện; mục tiêu về an toàn lao động; mục tiêu về môi trường, mục tiêu về quản lý rủi ro; mục tiêu về sự thỏa mãn của khách hàng…trong đó, 3 mục tiêu chính quan trọng nhất là: chất lượng, thời gian, chi phí. Quy trình quản lý dự án đầu tư xây dựng Quản lý dự án đầu tư xây dựng là một quy trình thực hiện bao gồm các giai đoạn chính sau: (i) Lập dự án ĐTXD công trình; (ii) thẩm định dự án và ra quyết định đầu tư; (iii) lựa chọn nhà thầu, đàm phán và ký kết hợp đồng; (iv) lập kế hoạch triển khai thực hiện; (v) giám sát, đánh giá và kiểm soát thực hiện dự án; (vi) nghiệm thu bàn giao đưa vào sử dụng, quyết toán, đánh giá kết quả thực hiện dự án.