LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm qua, cùng với sự phát triển đi lên của đất nƣớc, nhu cầu về điện đối với các ngành kinh tế quốc dân, nhu cầu điện phục vụ sinh hoạt và các hoạt động chính trị - xã hội không ngừng tăng cao (13 – 15%/năm, có năm 17 – 18%/năm). Nhằm định hƣớng cho quá trình phát triển ngành điện Việt Nam, Chiến lƣợc phát triển ngành điện Việt Nam giai đoạn 2004 – 2010, định hƣớng đến 2020 đã đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ ký quyết định 176/2004/QĐ – TTG ngày 5 tháng 10 năm 2004. Quy hoạch điện VI cũng đƣợc ban hành theo quyết định số 110/2007/QĐ – TTg của Thủ tƣớng Chính phủ.
Theo đó, một loạt các dự án nhà máy điện sẽ đƣợc tiến hành trong thời gian tới. Một trong những vấn đề quan trọng đƣợc lƣu ý khi tiến hành thực hiện một dự án đầu tƣ đó là công tác quản lý dự án. Công tác quản lý giữ một vai trò thiết yếu trong toàn bộ quá trình hình thành và thực hiện dự án đầu tƣ, xuyên suốt các giai đoạn kể từ khi xuất hiện các cơ hội đầu tƣ, lập báo cáo nghiên cứu khả thi, thẩm định, đàm phán ký kết các hợp đồng… cho đến khi dự án đi vào thi công và chính thức đƣợc đƣa vào hoạt động. Hiệu quả của một dự án đầu tƣ sẽ đƣợc đảm bảo nếu nhƣ khâu quản lý dự án đƣợc thực hiện tốt.
Ngƣợc lại, việc quản lý thiếu chặt chẽ sẽ là nhân tố gây ảnh hƣởng nhiều tới tiến độ, chất lƣợng, là một trong những nguyên nhân gây lãng phí về thời gian, chi phí và ảnh hƣởng tới hiệu quả đầu tƣ chung. Công tác quản lý dự án ngành điện nói chung và ngành nhiệt điện nói riêng, hiện nay còn nhiều điều bất cập do tính chất các dự án ngành nhiệt điện thƣờng có quy mô vốn đầu tƣ lớn, thời gian tiến hành đầu tƣ kéo dài, các dây chuyền sản xuất phức tạp… Điều này dẫn đến tiến độ kế hoạch về thời gian, chi phí và chất lƣợng bị ảnh hƣởng. Do vậy việc nghiên cứu, tìm hiểu về công tác quản lý dự án trên phƣơng diện khoa học và thực tiễn là rất cần thiết. Xuất phát từ tầm quan trọng của việc nghiên cứu công tác quản lý dự án tại Ban Quản lý dự án nhiệt điện I - Tập đoàn điện lực Việt Nam và từ yêu cầu hoàn thiện hơn lý luận về quản lý dự án đầu tƣ, tác giả chọn đề tài: ii “Công tác quản lý dự án đầu tư tại Ban Quản lý dự án nhiệt điện I - Tập đoàn Điện lực Việt Nam.
Thực trạng và giải pháp” để nghiên cứu, với mong muốn nhằm góp phần xây dựng một lý luận về quản lý dự án đầu tƣ tại Ban Quản lý dự án, trên cơ sở đó giải quyết những vấn đề thực tiễn nêu trên. Mục đích nghiên cứu - Nghiên cứu và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về dự án đầu tƣ và quản lý dự án đầu tƣ tại Ban Quản lý dự án. Những nghiên cứu về lý luận này là cơ sở để định hƣớng tiếp cận trong phân tích thực trạng và đề xuất những giải pháp. - Đánh giá thực trạng công tác quản lý dự án đầu tƣ tại Ban Quản lý dự án nhiệt điện I.
Phân tích những tồn tại trong công tác quản lý dự án đầu tƣ và nguyên nhân. - Xây dựng hệ thống những quan điểm cơ bản và đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tƣ thuộc Ban quản lý dự án nhiệt điện I. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Nghiên cứu công tác quản lý dự án đầu tƣ tại Ban Quản lý dự án nhiệt điện I - Thời gian nghiên cứu: 2006 – 2008 4. Phƣơng pháp nghiên cứu - Phƣơng pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lê nin - Phƣơng pháp tổng hợp, phân tích, phƣơng pháp so sánh, các phƣơng pháp thống kê kết hợp với khảo sát thực tế.
Đóng góp của Đề tài - Về mặt lý luận: Bổ sung và hoàn thiện cơ sở lý luận về quản lý dự án đầu tƣ tại Ban Quản lý dự án nhiệt điện I. - Về mặt thực tiễn: Đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện công tác quản lý dự án tại Ban Quản lý dự án nhiệt điện I. iii CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƢ VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƢ TRONG NGÀNH NHIỆT ĐIỆN 1. Các khái niệm chung liên quan đến dự án đầu tƣ và quản lý dự án đầu tƣ Đối với dự án đầu tư, theo nghĩa chung nhất, dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cụ thể cần phải đƣợc thực hiện với phƣơng pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới”.
Trên phương diện quản lý, dự án đƣợc định nghĩa: “Dự án là những nỗ lực có thời hạn nhằm tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ nhất định”. Ngoài ra còn một số định nghĩa khác về dự án. Đặc trưng của dự án đầu tư: Dự án có mục đích, kết quả xác định, dự án có chu kì phát triển riêng và có thời gian tồn tại hữu hạn, sản phẩm của dự án mang tính đơn chiếc, độc đáo, dự án liên quan đến nhiều bên, môi trƣờng hoạt động “va chạm”, Tính bất định và độ rủi ro cao. Các cách phân loại dự án đầu tư: theo cơ cấu tái sản xuất, theo lĩnh vực hoạt động xã hội, theo các giai đoạn hoạt động của các dự án đầu tƣ trong quá trình tái sản xuất xã hội, theo thời gian thực hiện và phát huy tác dụng để thu hồi đủ vốn đã bỏ ra, theo sự phân cấp quản lý dự án, theo nguồn vốn.
Chu kỳ một dự án đầu tư đƣợc thể hiện thông qua ba giai đoạn: Giai đoạn tiền đầu tƣ (Chuẩn bị đầu tƣ), giai đoạn đầu tƣ (Thực hiện đầu tƣ) và giai đoạn vận hành các kết quả đầu tƣ (Sản xuất kinh doanh). Đối với quản lý dự án, quản lý dự án là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách đƣợc duyệt và đạt đƣợc các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lƣợng sản phẩm dịch vụ, bằng những phƣơng pháp và điều kiện tốt nhất cho phép. Quản lý dự án bao gồm ba giai đoạn chủ yếu: lập kế hoạch; điều phối thực hiện và giám sát. iv Tác dụng của quản lý dự án: liên kết tất cả các hoạt động, các công việc của dự án; tạo điều kiện thuận lợi cho việc liên hệ thƣờng xuyên, gắn bó giữa nhóm quản lý dự án với khách hàng và các nhà cung cấp đầu vào cho dự án; tăng cƣờng sự hợp tác giữa các thành viên và chỉ rõ trách nhiệm của các thành viên tham gia dự án; tạo điều kiện phát hiện sớm những khó khăn vƣớng mắc nảy sinh và điều chỉnh kịp thời trƣớc những thay đổi hoặc điều kiện không dự đoán đƣợc; tạo ra sản phẩm và dịch vụ có chất lƣợng cao hơn.
Nội dung của quản lý dự án: Quản lý vĩ mô và quản lý vi mô đối với các dự án; quản lý theo lĩnh vực quản lý dự án; quản lý theo chu kỳ của dự án. Tiêu chuẩn đánh giá việc quản lý dự án: - Hoàn thành công việc trong một thời gian quy định. - Hoàn thành trong chi phí cho phép. - Đạt đƣợc thành quả mong muốn.
- Sử dụng nguồn lực đƣợc giao một cách hiệu quả và hữu hiệu. Các mô hình tổ chức quản lý dự án: Mô hình chủ đầu tƣ trực tiếp quản lý dự án; mô hình Chủ nhiệm điều hành dự án; mô hình chìa khoá trao tay; mô hình tổ chức quản lý dự án theo chức năng; mô hình tổ chức chuyên trách quản lý dự án; mô hình tổ chức quản lý dự án theo ma trận. Các công cụ quản lý dự án đầu tư: Cơ cấu phân tách công việc; Sơ đồ mạng PERT/CPM; Biểu đồ GANTT. Các vấn đề liên quan đến dự án đầu tƣ và quản lý dự án đầu tƣ ngành nhiệt điện Các dự án ngành nhiệt điện có những đặc điểm riêng biệt của nó: Thứ nhất, các dự án nhiệt điện thƣờng có quy mô đầu tƣ xây dựng lớn, cho nên đòi hỏi vốn đầu tƣ rất lớn.
Trong quá trình thực hiện thì nhu cầu về vốn là hết sức cần thiết. Thứ hai, các hạng mục công trình và dây chuyền sản xuất rất phức tạp. Ngoài việc xây dựng khu nhà máy chính thì việc tính toán chuẩn xác về khía cạnh kỹ thuật của các hệ thống cung cấp nhiên liệu (gồm băng chuyền, kho than, hệ thống cung cấp v dầu.); hệ thống cấp thải nƣớc kỹ thuật và nƣớc làm mát; hệ thống khử bụi, khử lƣu huỳnh, thải tro xỉ; hệ thống phòng chống cháy nổ, hệ thống điện tự dùng; hệ thống đấu nối điện với lƣới điện quốc gia. là yêu cầu hết sức quan trọng.
Thứ ba, dự án xây dựng nhà máy nhiệt điện đòi hỏi diện tích sử dụng lớn. Điều này có ảnh hƣởng tới nhiều bên liên quan do phải đền bù giải phóng mặt bằng và những phƣơng án tái định cƣ. Thứ tư, nguyên vật liệu đầu vào của các nhà máy nhiệt điện là những nguyên nhiên liệu tự nhiên nhƣ: than, dầu, khí đốt. Cho nên các dự án nhiệt điện có khả năng tác động mạnh mẽ tới môi trƣờng.
Vì vậy các dự án đầu tƣ nhà máy nhiệt điện bắt buộc phải áp dụng TCVN 7440:2005 - Tiêu chuẩn thải cho ngành công nghiệp nhiệt điện kèm theo các hệ số khu vực, hệ số công suất theo quyết định 07/2005/QĐ - BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng. Theo đó, nồng độ các chất ô nhiễm thực tế nhà máy nhiệt điện đƣợc phép thải sẽ bị giới hạn so với giá trị ban đầu. Điều này có nghĩa, việc đầu tƣ các thiết bị xử lý sao cho đạt tiêu chuẩn của TCVN 7440:2005 đòi hỏi một chi phí rất cao. Thứ năm, do tính chất phức tạp của các dự án ngành nhiệt điện nên dự án có liên quan nhiều đến tƣ vấn và nhà thầu nƣớc ngoài.
Thứ sáu, thời gian của các dự án đầu tƣ nhiệt điện thƣờng kéo dài, từ khâu chuẩn bị đầu tƣ đến thực hiện và vận hành đầu tƣ. Trong quản lý dự án các ngành nhiệt điện cần chú ý đến tất cả các nội dung quản lý dự án đặc biệt là các nội dung: quản lý thời gian, quản lý chất lƣợng, quản lý chi phí và quản lý hoạt động mua bán (đấu thầu).