Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DỊCH VỤ CÔNG ÍCH VỆ SINH MÔI TRƯỜNG 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Dịch vụ công ích Khái niệm dịch vụ công được sử dụng phổ biến rộng rãi ở châu Âu sau chiến tranh thế giời thứ hai. Dịch vụ công theo từ điển tiếng Anh là “public service”.
Trên thế giới hiện nay có nhiều cách tiếp cận đối với dịch vụ công, mỗi cách tiếp cận đều có ưu và nhược điểm riêng, vì thế không có định nghĩa chung nhất nào về dịch vụ công. Trong bối cảnh thực tiễn Việt Nam cùng với hướng tiếp cận về bản chất, chức năng và vai trò của nhà nước, có thể đưa ra khái niệm về dịch vụ công như sau: “dịch vụ công là những dịch vụ đáp ứng các nhu cầu cơ bản, thiết yếu chung của người dân và cộng đồng, bảo đảm ổn định và công bằng xã hội do nhà nước chịu trách nhiệm, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận. Theo tác Chu Xuân Thành, dịch vụ công là những hoạt động của các tổ chức nhà nước hoặc của các doanh nghiệp, tổ chức xã hội, tư nhân được nhà nước ủy quyền để thực hiện nhiệm vụ do pháp luật quy định, phục vụ trực tiếp những nhu cầu thiết yếu của cộng đồng, công dân; theo nguyên tắc không vụ lợi; đảm bảo sự công bằng và ổn định xã hội; và cho rằng dịch vụ công bao gồm dịch vụ sự nghiệp công (hoặc phúc lợi công), dịch vụ công ích và dịch vụ hành chính công, đồng thời nhấn mạnh là không được lẫn lộn với hoạt động công vụ là hoạt động hàng ngày của bộ máy công quyền. [23] Cũng liên quan đến khái niệm dịch vụ công, tác giả Nguyễn Xuân Lan (2012) lại cho rằng: Dịch vụ công là những hàng hóa, dịch vụ nhà nước can thiệp vào việc cung cấp nhằm mục tiêu hiệu quả và công bằng.
Theo đó, dịch vụ công là tất cả những hoạt động nhằm thực hiện những chức anwng vốn có của chính phủ, bao gồm từ hoạt động ban hành chính sác, pháp luật, tòa án.cho đến những hoạt động y tế, giáo dục, giao thông công cộng. Dịch vụ 1 công còn được hiểu là những hàng hóa dịch vụ phục vụ trực tiếp nhu cầu của các tổ chức và công dân mà chính phủ can thiệp vào việc cung cấp nhằm mục tiêu hiệu quả, công bằng.[16] Từ những khái niệm trên, có thể khái quát lại: Dịch vụ công là những hoạt động phục vụ các nhu cầu cơ bản, thiết yếu của người dân, vì lợi ích chung của xã hội, do nhà nước trực tiếp cung ứng hoặc ủy quyền cho các chủ thể khác cung ứng nhằm bảo đảm ổn định và công bằng xã hội.1: Ba loại hình tổ chức cung ứng dịch vụ công NGƯỜI SỬ DỤNG DỊCH VỤ 1 Căn cứ vào tính chất và tác dụng của dịch vụ công có thể phân dịch vụ công thành ba loại: - Dịch vụ hành chính công: là dịch vụ gắn với chức năng quản lý hành chính nhà nước, thường do các cơ quan hành chính thực hiện. - Dịch vụ sự nghiệp công: là hoạt động cung cấp các phúc lợi xã hội thiết yếu cho người dân như giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao… - Dịch vụ công ích: là hoạt động cung cấp hàng hóa, dịch vụ có tính kinh tế đáp ứng nhu cầu vật chất thiết yếu cho sinh hoạt của người dân và cộng đồng, tạo ra cơ sở hạ tầng cơ bản cho sản xuất và sinh hoạt của các tổ chức và dân cư. Dịch vụ công ích bao gồm: vệ sinh môi trường, cung cấp nước sạch, thoát nước, vận tải công cộng, cấp điện, bưu chính.Những dịch vụ này không cung cấp miễn phí mà có thu phí nhưng chịu sự quản lý chặt chẽ của nhà nước về định giá và sản lượng cung cấp.
Dịch vụ công ích vệ sinh môi trường Vệ sinh môi trường là các biện pháp nhằm cải tạo và làm sạch môi trường sống, góp phần bảo vệ sức khoẻ nhân dân. Đó là các biện pháp được thực hiện để bảo đảm vệ sinh thực phẩm, vệ sinh nước sinh hoạt, vệ sinh công cộng, vệ sinh khi chôn cất người chết., như: xây dựng hệ thống cống rãnh thoát nước, thu gom và xử lí rác thải; cung cấp đầy đủ nước sạch cho người dân, không phóng uế và đổ rác bừa bãi, thường xuyên phun thuốc diệt muỗi, diệt côn trùng, chôn cất người chết tại các khu tập trung, xa khu dân cư.[12] Như vậy, dịch vụ công ích VSMT là dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn, vệ sinh công cộng.Dịch vụ phục vụ công cộng về vệ sinh, thoát nước đường phố và khu dân cư cung cấp cho tổ chức, cá nhân (kể cả tổ chức, cá nhân trong và ngoài khu công nghiệp) bao gồm các hoạt động thu, dọn, vận chuyển, xử lý rác và chất phế thải; thoát nước, xử lý nước thải; bơm hút, vận chuyển và xử lý phân bùn, bể phốt; thông tắc công trình vệ sinh, hệ 1 thống thoát nước thải; quét dọn nhà vệ sinh công cộng; duy trì vệ sinh tại các nhà vệ sinh lưu động và thu gom, vận chuyển xử lý chất thải khác. Trong đó, thu gom chất thải rắn là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lưu giữ tạm thời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới địa điểm hoặc cơ sở được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận. Lưu giữ chất thải rắn là việc giữ chất thải rắn trong một khoảng thời gian nhất định ở nơi được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận trước khi vận chuyển đến cơ sở xử lý.
Dịch vụ công ích VSMT là một dạng của dịch vụ công nên nó cũng mang những đặc điểm của dịch vụ công là: có tính chất xã hội cao, có mục tiêu là phục vụ lợi ích cộng đồng, không phân biệt giai cấp, địa vị xã hội, công bằng và có tính quần chúng rộng rãi. Vì vậy, tính kinh tế, lợi nhuận trong cơ chế thị trường không phải là điều kiện cần có của hoạt động dịch vụ công íc VSMT. Thị trường dịch vụ công ích VSMT rất khác so với thị trường dịch vụ cá nhân về phương thức vận hành, do hàng hóa công cộng mà thị trường này cung ứng rất khác với hàng hóa dịch vụ cá nhân. Vì đây là dịch vụ công ích thiết yếu nên dù do ai cung ứng thì chính quyền đô thị cũng phải kiểm soát giá cả và chịu trách nhiệm trước nhân dân về sự cung ứng kịp thời cả về chất lượng và số lượng theo đúng quy định của chính quyền.
Nhà nước có trách nhiệm can thiệp vào quá trình cung ứng dịch vụ công ích VSMT để đảm bảo quá trình cung ứng dịch vụ theo định hướng của nhà nước, đáp ứng đòi hỏi của các công dân và xã hội. Việc cung ứng dịnh vụ công ích VSMT có thể do cơ quan nhà nước (có thể là cơ quan công quyền hoặc đơn vị sự nghiệp hay doanh nghiệp nhà nước) đảm nhiệm hoặc nhà nước có thể ủy quyền cung ứng cho các đơn vị nhà nước. Các hoạt động dịch vụ công ích VSMT luôn vận động và phát triển cùng sự phát triển của đô thị theo hướng mở rộng về quy mô, khối lượng, loại hình dịch vụ đồng thời đòi hỏi ngày càng nâng cao chất lượng dịch vụ. Quản lý nhà nước về dịch vụ công ích vệ sinh môi trường 1.
Khái niệm Trong từ điển tiếng Việt, “Quản lý được hiểu là việc tổ chức, điều khiển hoạt động của một số đơn vị, cơ quan; việc trông coi, gìn giữ và theo dõi việc gì” [28, tr. Các nhà nghiên cứu về khoa học quản lý đưa ra khái niệm cụ thể hơn là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Để thực hiện công tác quản lý cần phải dựa vào các công cụ quản lý là các chính sách về luật pháp, chiến lược phát triển, quy hoạch, đề án bảo vệ và phát huy di sản, nguồn lực, tài chính, các công trình nghiên cứu khoa học nhằm đạt được các mục đích đã đề ra. Có nhiều dạng quản lý của nhiều chủ thể quản lý khác nhau trong sự vận động và phát triển của xã hội.
Trong đó, QLNN là một dạng quản lý có ý nghĩa quan trọng nhất và có nhiều cách hiểu về QLNN. Theo nghĩa chung nhất, QLNN vừa là chức năng, vừa là quyền hạn và nhiệm vụ của nhà nước, nó được hiểu là việc nhà nước sử dụng quyền lực chung đã được thể chế hóa tác động thường xuyên và liên tục đến các quá trình, lĩnh vực hay quan hệ xã hội nhằm đạt được mục đích quản lý. Chúng ta có thể định nghĩa quản lý nhà nước theo hai bình diện: + Theo nghĩa rộng: QLNN là hoạt động tổ chức, điều hành của hệ thống các cơ quan trong bộ máy nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp, hành phápvà tư pháp. + Theo nghĩa hẹp: QLNN được hiểu là hoạt động chấp hành và điều hành của các cơ quan hành chính nhà nước, đó là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước” [14, tr11] Trong giới hạn của luận văn, khái niệm QLNN được hiểu theo nghĩa hẹp.
1 Như vậy, từ những khái niệm trên, có thể hiểu QLNN về dịch vụ công ích VSMT là sự tác động có tổ chức và bằng quyền lực của bộ máy nhà nước lên đối tượng bị quản lý (các cơ quan chức năng quản lý cung cấp dịch vụ công ích VSMT được ủy quyền và công dân sử dụng dịch vụ công ích VSMT) trong việc đảm bảo các dịch vụ công ích VSMT cho mọi người dân một cách công bằng, ổn định, hiệu quả và phi lợi nhuận. Sự cần thiết quản lý nhà nước về dịch vụ công ích vệ sinh môi trường Dịch vụ công nói chung và dịch vụ công ích VSMT nói riêng ra đời và tồn tại trên cơ sở cho phép của nhà nước bằng các quy định của chính sách, pháp luật, ngược lại hoạt động QLNN về dịch vụ công ích VSMT rất cần thiết do đòi hỏi của thực tiễn để điều chỉnh hành vi, hoạt động của các chủ thể liên quan đến việc cung ứng dịch vụ công ích VSMT. Thứ nhất, QLNN về dịch vụ công ích VSMT tạo ra các khuôn mẫu cho hành vi của các chủ thể tham gia vào dịch vụ.