Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐỀN THỜ BÀ TRIỆU (ĐỀN TÍA) XÃ VÂN SƠN, HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA 1. Cơ sở lý luận về quản lý di tích 1. Một số khái niệm liên quan - Khái niệm di tích lịch sử - văn hóa Thuật ngữ di tích ở nhiều nước trên thế giới đều dùng với nghĩa chung nhất, rộng nhất là các dấu tích, dấu vết còn lại trong lịch sử sáng tạo văn hóa của con người.
Tại Đại hội quốc tế lần thứ hai các kiến trúc sư và các kỹ thuật gia chuyên về di tích, họp tại thành phố Venice từ ngày 25 - 31/5/1964 đã thông qua Hiến chương Venice, theo đó di tích được hiểu: “Không chỉ là một công trình kiến trúc đơn chiếc mà cả khung cảnh đô thị hoặc nông thôn có chứng tích của một nền văn minh riêng, một sự tiến hóa có ý nghĩa hoặc một sự kiện lịch sử”. Theo Pháp lệnh “Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh” công bố ngày 04/4/1984 thì “Di tích lịch sử - văn hóa là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng như có giá trị văn hoá khác hoặc có liên quan đến những sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hoá, xã hội”. Theo "Từ điển tiếng Việt" của Viện Ngôn ngữ học Việt Nam thì “Di tích là dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất có ý nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử”. 10 Từ điển Bách Khoa thì: “Di tích là các loại dấu vết của quá khứ, là đối tượng nghiên cứu của khảo cổ học, sử học… Di tích là di sản văn hóa - lịch sử được pháp luật bảo vệ, không ai được tùy tiện dịch chuyển, thay đổi, phá hủy” Luật Di sản văn hóa do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành năm 2001 và sửa đổi, bổ sung Luật Di sản văn hóa 2009 quy định: “Di tích lịch sử văn hóa là những công trình xây dựng địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.
Trong đó, Danh lam thắng cảnh được hiểu “là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ khoa học”. Các công trình xây dựng, địa điểm đó là các tòa nhà, đài tưởng niệm, quảng trường, khu phố… gắn với các sự kiện lịch sử, các di chỉ khảo cổ, các địa điểm gắn với hoạt động tôn giáo tín ngưỡng. Một công trình được coi là di tích lịch sử - văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây (Theo quy định của Điều 28, Chương IV, Luật Di sản Văn hóa): + Công trình xây dựng địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước; + Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước; + Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến; + Địa điểm có giá trị tiêu biểu về khảo cổ; quần thể các công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử. Như vậy, di tích là một công trình hay một địa điểm gắn với sự kiện, nhân vật lịch sử hoặc tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hay nhiều thời kỳ lịch sử của đất nước.
11 Theo đánh giá và phân cấp quản lý thì di tích được chia làm 3 loại: di tích quốc gia đặc biệt, di tích quốc gia, di tích cấp tỉnh. - Khái niệm quản lý: Có nhiều học giả, nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm về quản lý, xuất phát từ hiệu quả và chỉ khi nào quan tâm đến hiệu quả thì người ta mới quan tâm đến hoạt động quản lý. Tuy vậy, tất cả các khái niệm về quản lý đều tập trung vào hai vấn đề cơ bản sau: + Quản lý là một hoạt động có hướng đích của chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. + Quản lý là phương thức làm cho những hoạt động hoàn thành với hiệu quả cao, bằng và thông qua những người khác.
Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân hay một nhóm người, một tổ chức. Đối tượng quản lý cũng có thể là một cá nhân hay một nhóm người, cộng đồng người hay một tổ chức nhất định. Quản lý phải là một quá trình liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý, sao cho sử dụng một cách tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội, nhằm đạt được mục tiêu đề ra theo đúng luật định và thông lệ hiện hành. Với ý nghĩa đó, chúng ta có thể đưa ra khái niệm quản lý như sau: Quản lý là quá trình tác động có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý để đạt được mục tiêu nhất định thông qua hệ thống luật pháp và các quy định có tính pháp lý.
Nội dung cơ bản của quản lý hiện nay cũng có nhiều học giả, nhà nghiên cứu đưa ra nhiều nội dung, song tập trung nhất vẫn là bốn nội dung cơ bản sau: hoạch định, tổ chức, lãnh đạo (điều khiển), kiểm tra. Cấp độ quản lý cũng có hai cấp độ cơ bản: + Quản lý cấp vĩ mô: Dưới góc độ văn hóa: quản lý văn hóa vĩ mô. 12 + Quản lý cấp vi mô (chuyên ngành): Dưới góc độ văn hóa: quản lý các ngành như Thư viện, Bảo tàng, Nghệ thuật, Di tích - Danh thắng… - Khái niệm quản lý di tích lịch sử - văn hóa Quản lý DT LSVH là sự định hướng, tạo điều kiện tố chức điều hành việc bảo vệ, giữ gìn các DT LSVH, làm cho các giá trị của các di tích lịch sử văn hóa được phát huy theo chiều hướng tích cực. Do đó, DT LSVH là một bộ phận quan trọng cấu thành DSVH, vì vậy việc quản lý DT LSVH cùng cần tiến hành theo nội dung quản lý nhà nước về DSVH được qui định tại Điều 54 của Luật Di sản Văn hóa do Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam ban hành năm 2001.
Các nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa sẽ được áp dụng như các tiêu chí để khảo cứu thực trạng công tác quản lý di tích đền thờ Bà Triệu ở xã Vân Sơn, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Từ những nội dung nêu ra trên đây, tác giả luận văn đưa ra quan niệm về quản lý DT LSVH như sau: “Quản lý DT LSVH là những hoạt động hướng tới việc bảo tồn, gìn giữ các di tích chống lại sự tàn phá của thiên nhiên, con người để từ đó thực hiện các hình thức khai thác, phát huy có hiệu quả các di tích góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội", có thể hiểu cách khác “Quản lý DT LSVH là hoạt động của cơ quan quản lý các cấp và cộng động hướng tới việc bảo tồn, phát huy giá trị của di tích lịch sử văn hóa góp phần vào sự phát triển kinh tế, văn hóa xã hội”. Bảo tồn và phát huy giá trị của DT LSVH là hoạt động thiết thực giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, nâng cao ý thức dân tộc và niềm tự hào truyền thống lịch sử của dân tộc. Hoạt động bảo tồn và phát huy DT LSVH tạo ra nền móng vững chắc cho việc xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội, tạo nguồn lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
13 Bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa tạo cơ sở vững chắc đề văn hóa được giao lưu, tiếp biến và là điều kiện đảm bảo cho dân tộc ta hội nhập, hợp tác và phát triển. Quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa Di tích lịch sử - văn hóa là một bộ phận của di sản văn hóa, do vậy nội dung quản lý di tích lịch sử - văn hóa cũng bám sát các nội dung của quản lý di sản văn hóa. Nội dung Quản lý Nhà nước về di sản được đề cập trong Luật Di sản văn hóa do Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ban hành năm 2001, sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2009. Nội dung của Quản lý Nhà nước về DSVH bao gồm: 1.
Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược quy hoạch, chính sách cho sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị DSVH; 2. Ban hành và thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về DSVH; 3. Tổ chức chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di tích LS - VH tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về DSVH; 4. Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về DSVH; 5.
Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị DSVH; 6. Tổ chức chỉ đạo, khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị; 7. Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị DSVH; 8. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khâu khiếu nại tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về DSVH.
Cơ sở pháp lý về quản lý di tích lịch sử - văn hóa 1. Quan điểm của UNESCO về di sản văn hóa Từ rất sớm, UNESCO đã khuyến nghị các quốc gia trên thế giới tăng cường việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá trước những trước những tác động mới về kinh tế - xã hội, đặc biệt là những tác động của quá trình toàn cầu hoá. Đồng thời, nỗ lực xúc tiến việc soạn thảo những văn bản pháp lý quốc tế về vấn đề bảo vệ và phát huy các di sản văn hoá phi vật thể. Do vậy, lần lượt các luật và văn bản luật liên quan đã được ban hành nhằm bảo vệ và phát huy các di sản văn hóa nói chung như: Hiến chương Athens về trùng tu di tích lịch sử năm 1931; Hiến chương Venice năm 1964 về trùng tu di tích và di chỉ với 16 điều hướng dẫn; Công ước về bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên của thế giới được thông qua tại kỳ họp thứ 17 của Đại hội đồng UNESCO tại Paris ngày 16/11/1972.