Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẦN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MON TIENG ANH 6 TRUONG TRUNG HQC CO SO 1. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VAN DE Dạy và học là hai mặt không thể tách rời của phương thức tồn tại, phát triển xã hội và cá nhân. Dạy học là hoạt động lao động xã hội xuất hiện từ lúc con người có nhu cầu truyền lại cho thế hệ sau những kinh nghiệm của thế hệ trước. Để dạy học đạt kết quả, người quản lý cần phải có cách thức quản lý khoa học, phù hợp nhằm đem lại hiệu quả cao.
Hoạt động quản lý xuất hiện khi có sự phân công lao động trong xã hội. Lý luận về hoạt động quản lý dạy học được hình thành và phát triển cùng với sự hình thành, phát triển của giáo dục vì nó là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định chất lượng của quá trình dạy học và 1. Nghiên cứu nước ngoài Ngay từ thời cỗ đại, tư tưởng về quản lý dạy học đã được thể hiện trong những. quan điểm của nhiều nhà triết học đồng thời là những nhà giáo dục.
Khổng Tử (SS1- 479 TCN) đã có những đề xuất về PPGD như nguyên lý học đi đôi với hành, giúp. học trò phát triển bằng cách khuyến khích sở trường và phê bình sở đoản. Socrates (469 - 399 TCN) cùng học trò vừa đi chơi vừa đàm đạo qua đó ông gợi mở để học trò tự đi đến kết luận, do đó phương pháp này có tên là phương pháp đỡ đẻ.Komenxki (1592-1670), đã đưa ra PPDH trực quan bằng cách yêu cầu thầy giáo. phải cho học sinh sử dụng tắt cả các giác quan vào tri giác tài liệu nhằm giúp HS tích cực, tự giác trong việc lĩnh hội kiến thức và đây cũng chính là quan điểm lấy học sinh làm trung tâm mà sau này được các nhà giáo dục kế thừa và phát triển như.Rousseau (1717-1778) chủ trương giáo dục trẻ em một cách tự nhiên, tự do và HS tích luỹ được kiến thức.
thông qua chính hoạt động của mình. Cùng với sự phát triển của khoa học-kỹ thuật, trong thế kỷ XIX, XX đã xuất hiện nhiều nhà giáo dục tiêu biểu như John Dewey (1859-1952), A. đều hướng đến sự tích cực hoá hoạt động. i của người học.
Trong nhiều thập kỷ trở lại đây, các nhà giáo dục Liên xô - Nga đã tô chức nghiên cứu có hệ thống nhiều vấn để về PPDH như V.trong đó việc công nghệ hoá quá trình dạy học của Giáo sư Viện sỹ V. Davudov đã được vận dụng tổ chức dạy học tai Viét Nam. Các học thuyết quản lý mới bắt đầu xuất hiện đầu thế kỷ XX. Đầu tiên là thuyết quản lý khoa học của Frederick Winslow Taylor (1856-1916) với các công trình nghiên cứu “Quản lý ở nhà máy” (1903), “Những nguyên lý quản lý theo khoa.
học” (Prineiples of scientific management) năm 1911, ông đã hình thành thuyết Quản lý theo khoa học, mở ra “kỷ nguyên vàng” trong quản lý ở Mỹ. Ngoài ra, Taylor còn viết nhiều tác phẩm có giá trị khác. Ông được coi là “người cha của lý luận quản lý theo khoa học”. Tiếp đó là thuyết quản lý cua Henry Fayol (1841- 1925) qua tác phẩm chủ yếu “Quản lý công nghiệp và tổng quát" (Administration industrielle et générale) xuất bản năm 1949, ông đã tiếp cận vấn đề quản lý ở tầm rộng hơn và xem xét dưới góc độ tổ chức-hành chính.
Với thuyết này, ông đã được coi là người đặt nền móng cho lý luận quản lý cổ điển, là “một Taylor của Châu Âu” và là “người cha thực sự của lý thuyết quản lý hiện đại” 1. Nghiên cứu trong nước Nhận thức được tầm quan trọng của quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, đặc biệt là quản lý hoạt động dạy học của hiệu trưởng nhà trường, trong thời qua đã có nhiều luận văn Thạc sỹ, luận án Tiến sỹ Giáo dục học tập trung nghiên cứu vấn đề này. Tuy nhiên, vấn đề quản lý hoạt động dạy học bộ môn tiếng Anh còn ít tác giả nghiên cứu. Các tác giả nghiên cứu vấn đề này trong các luận văn Thạc sỹ Quản lý giáo dục tại trường Đại học Sư phạm Huế như Phan Trần Mai Trinh, Trần Thị Phương, Đoàn Quang Vinh Ở tỉnh Quảng Trị, vấn đề quản lý hoạt động dạy học nói chung, quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh nói riêng luôn được các nhà quản lý quan tâm nhưng đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào một cách hệ thống và khoa học.
Vì vậy, việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn nhằm đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt đông dạy học môn tiếng Anh ở các trường THCS huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị là cần thiết. MOT SO KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Quản lý Khái niệm quản lý đã được các nhà nghiên cứu đưa ra theo nhiều cách khác nhau tuỳ theo những cách tiếp cận khác nhau, ở các góc độ khác nhau. Chẳng hạn: Theo Dai tir điển Tiếng Việt, 1998 quản lý là "tổ chức, điều khiển hoạt động.
của một số đơn vị, một cơ quan" [19]. Theo Từ điển Tiếng Việt, 2008 "Quản jÿ là trông coi và giữ gìn theo những. yêu cầu nhất định; tô chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”. Taylor cho ring: guén J} là biết chính xác điều muốn người khác làm, sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất".Koont thì khẳng định: quản Jy là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức).
[18] "Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) một cách tối ưu nhằm đạt được mục đích của tô chức với hiệu quả cao nhất". [12] Tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng "Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra [10] Từ những quan niệm về quản lý như trên chúng ta có thể hiểu quan by là quá trình tác động có tổ chức, có tính hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng việc vận dụng các chức năng quản lý nhằm đạt được mục tiêu xác định. Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 1. Quan ý giáo dục Quản lý giáo dục là một hiện tượng xã hội, đồng thời là một dạng lao động đặc.
biệt mà nét đặc trưng của nó là tính tích cực sáng tạo, năng lực vận dụng những tri thức đã có để đạt mục đích đặt ra một cách có hiệu quả, là sự cải biến hiện thực. Do đó, chủ thể quản lý phải biết sử dụng không chỉ những chuẩn mực pháp quyền, mà còn sử dụng cả những chuẩn mực về đạo đức, xã hội, tâm lý. nhằm đảm bảo sự. 13 thống nhất và những mối quan hệ trong quá trình quản lý.
Trong hoạt động quản lý, nhà quản lý luôn luôn tìm cách đúc kết kinh nghiệm và cải tiến công việc để có hiệu quả tốt hơn. Bản thân công việc đó đã mang tính khoa học. Hơn nữa, các hoạt động. quản lý đều chịu sự chi phối bởi các quy luật khách quan; và khi khoa học quản lý xuất hiện và ngày càng hoàn thiện thì tất yếu, nhà quản lý phải tận dụng nó phục vụ lợi ích của mình.
Quản lý giáo dục là một bộ phận của quản lý xã hội, là nhân tố tô chức, chỉ đạo việc thực thi phát triển nền giáo dục càng ngày càng tiến bộ. Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “OLGD là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp quy luật) của chủ thể quản lÿ đến tắt cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển GD-ĐT thế hệ trẻ có nhân cách, đáp ứng. yêu cầu xã hội đối với ngành giáo dục ” [1]. Theo tac gia Đặng Quốc Bảo “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là điều hành phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thể hệ theo yêu cầu phát triển của xã hội.
Ngày nay, với sử mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người. Cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân " [§]. Từ những ý kiến trên, có thể hiểu quan ly giáo dục là: “Quản by giáo dục là hệ thống tác động có hướng đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý ở các cơ sở giáo dục khác nhau trong toàn bộ hệ thống giáo dục, nhằm phát triển quy mô cả. về số lượng và chất lượng để đạt tới mục tiêu giáo dục ”.
Quản lý nhà trường Nhà trường là một thiết chế chuyên biệt của xã hội, thực hiện chức năng. truyền đạt những kinh nghiệm có chọn lọc của thế hệ đi trước cho thế hệ sau theo một chương trình kế hoạch nhất định, nhằm hình thành và phát triển nhân cách một cách toàn diện cho các thành viên của xã hội. Vấn đề cơ bản của hoạt động quản lý. giáo dục là quản lý nhà trường.
Nhà trường là nơi tổ chức thực hiện và quản lý quá trình giáo dục. Quá trình này được thực hiện bởi hai chủ thể, người được giáo dục (người học) và người giáo dục (người dạy). Trong quá trình giáo dục hoạt động của 14 người học và hoạt động của người dạy luôn gắn bó tương tác hỗ trợ nhau tựa vào nhau để thực hiện mục tiêu giáo dục theo yêu cầu xã hội. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản jÿ nhà trường là những hoạt động của chủ thể quản lý nhà trường (Hiệu trưởng) đến tập thể cán bộ giáo viên, tập thể HS, phụ huynh học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường” [20] Còn theo tác giả Nguyễn Thị Hoàng Trâm: “Quản ý nhà trường là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch.