Quản lý dạy học môn Ngữ văn THCS huyện Điện Biên theo CT GDPT mới

Quản lý dạy học Ngữ văn theo chương trình mới tại trường THCS Điện Biên. Giải pháp nâng cao hiệu quả, đổi mới phương pháp, đáp ứng yêu cầu giáo dục.

Chuyên ngành

Quản lí giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

137
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

2. Mục đích nghiên cứu

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4. Giả thuyết khoa học

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài

7. Phương pháp nghiên cứu

8. Cấu trúc của luận văn

1. Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN THEO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

1.1. Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.2. Trên thế giới

1.3. Các khái niệm cơ bản

1.4. Quản lý, quản lý giáo dục

1.5. Hoạt động dạy học, quản lý hoạt động dạy học

1.6. Quản lý hoạt động dạy học theo chương trình giáo dục phổ thông mới

1.7. Một số vấn đề cơ bản về hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở trường THCS

1.8. Vị trí, vai trò của môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở trường THCS

1.9. Mục tiêu của môn Ngữ văn trong chương trình giáo dục phổ thông mới

1.10. Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở trường THCS

1.11. Quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở trường THCS

1.12. Vị trí, vai trò của Hiệu trưởng trong quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở trường THCS

1.13. Mục tiêu quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới

1.14. Nội dung quản lý của Hiệu trưởng trường THCS đối với hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới

1.15. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở trường THCS

2. Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN THEO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

2.1. Khái quát về các trường THCS ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên

2.2. Vị trí địa lý, dân cư và tình hình kinh tế - xã hội của huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên

2.3. Khái quát về giáo dục THCS ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên

2.4. Mục đích, nội dung và phương pháp khảo sát

2.5. Mục đích khảo sát

2.6. Nội dung khảo sát

2.7. Đối tượng khảo sát

2.8. Phương pháp khảo sát và phương thức xử lý số liệu

2.9. Thực trạng về hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS huyện Điện, tỉnh Điện Biên

2.10. Nhận thức của CBQL, GV, HS về hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở trường THCS

2.11. Thực trạng hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở trường THCS huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên

2.12. Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên

2.13. Thực trạng nội dung lập kế hoạch quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới

2.14. Thực trạng quản lý việc đổi mới phương pháp, hình thức, phương tiện dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới

2.15. Thực trạng quản lý GV và hoạt động dạy học trên lớp của GV môn Ngữ văn

2.16. Thực trạng quản lý việc thực hiện các hình thức kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới

2.17. Thực trạng quản lý việc kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới

2.18. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới

2.19. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS huyện Điện, tỉnh Điện Biên

2.20. Mặt tồn tại

2.21. Kết luận chương 2

3. Chương 3: CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN THEO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

3.1. Nguyên tắc xây dựng các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên

3.2. Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích

3.3. Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa

3.4. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn

3.5. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống và toàn diện

3.6. Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả

3.7. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi

3.8. Nguyên tắc đảm bảo phát huy tính tự giác, tích cực của giáo viên và học sinh

3.9. Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên

3.10. Tổ chức các hoạt động nhằm nâng cao nhận thức của CBQL, GV và HS về tầm quan trọng của dạy học môn Ngữ văn theo chương trình GD phổ thông mới

3.11. Xây dựng kế hoạch, nội dung chương trình dạy học môn Ngữ văn theo chương trình GD phổ thông mới phù hợp với tình hình thực tiễn

3.12. Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho GV Ngữ văn theo chương trình GD phổ thông mới

3.13. Chỉ đạo đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học môn Ngữ văn theo chương trình GD phổ thông mới

3.14. Chỉ đạo đổi mới phương thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn theo chương trình GD phổ thông mới

3.15. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học môn Ngữ văn đáp ứng yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới

3.16. Mối quan hệ giữa các biện pháp được đề xuất

3.17. Khảo nghiệm tính cấn thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất

3.18. Quy trình tiến hành khảo nghiệm

3.19. Kết quả khảo nghiệm

3.20. Kết luận chương 3

KẾT LUẬN CHUNG VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về Quản lý dạy học Ngữ văn THCS Điện Biên

Quản lý dạy học Ngữ văn THCS tại Điện Biên theo chương trình mới là một yêu cầu cấp thiết. Sự thay đổi trong Chương trình GDPT 2018 Ngữ văn đòi hỏi sự đổi mới trong cách tiếp cận, phương pháp giảng dạy và đánh giá học sinh. Mục tiêu là Nâng cao chất lượng dạy học Ngữ văn và phát triển toàn diện năng lực của học sinh. Việc này không chỉ là trách nhiệm của giáo viên mà còn là của cán bộ quản lý giáo dục, đặc biệt là hiệu trưởng các trường THCS. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên để đảm bảo sự thành công của chương trình mới. Theo Lê Thị Bích Hảo, công tác quản lý hoạt động dạy - học giữ vị trí quan trọng trong công tác quản lý nhà trường. Mục tiêu quản lý chất lượng đào tạo là nền tảng, là cơ sở để nhà quản lý xác định các mục tiêu quản lý khác trong hệ thống mục tiêu quản lý của nhà trường. Quản lý nhà trường thực chất là quản lý quá trình sư phạm của thầy, hoạt động học tập - tự giáo dục của trò, những hoạt động này diễn ra chủ yếu trong quá trình dạy học.

1.1. Sự cần thiết đổi mới Quản lý dạy học Ngữ văn THCS

Chương trình mới đặt ra những yêu cầu cao hơn về năng lực của học sinh, đòi hỏi giáo viên phải thay đổi phương pháp giảng dạy. Đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn là yếu tố then chốt để đáp ứng yêu cầu này. Cần chú trọng phát triển tư duy phản biện, khả năng sáng tạo và kỹ năng làm việc nhóm cho học sinh. Việc đánh giá học sinh cũng cần được thực hiện một cách khách quan và toàn diện, không chỉ dựa vào điểm số mà còn dựa vào quá trình học tập và rèn luyện của học sinh.

1.2. Vai trò của Hiệu trưởng trong quản lý dạy học Ngữ văn

Hiệu trưởng đóng vai trò then chốt trong việc triển khai chương trình mới. Hiệu trưởng cần xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra các hoạt động dạy và học một cách hiệu quả. Đồng thời, hiệu trưởng cũng cần tạo điều kiện cho giáo viên được bồi dưỡng chuyên môn, nâng cao trình độ để đáp ứng yêu cầu của chương trình mới. Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm trước nhà nước, trước nhân dân và cấp trên trực tiếp về mọi hoạt động giáo dục của nhà trường; là người thay mặt nhà nước điều hành toàn bộ bộ máy và thực hiện đồng bộ tất cả các nội dung định hướng phát triển GD&ĐT nhà trường trong sự vận hành chung của hệ thống giáo dục quốc dân. Năng lực của người hiệu trưởng có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả quá trình quản lý, với sự phát triển của nhà trường.

II. Thách thức Quản lý dạy học Ngữ văn THCS tại Điện Biên

Việc Quản lý dạy học Ngữ văn THCS Điện Biên theo chương trình mới gặp phải nhiều thách thức. Cơ sở vật chất còn hạn chế, đội ngũ giáo viên còn thiếu kinh nghiệm, học sinh còn gặp khó khăn trong việc tiếp cận phương pháp học tập mới. Bên cạnh đó, sự khác biệt về văn hóa và ngôn ngữ giữa các dân tộc thiểu số cũng là một yếu tố cần được quan tâm. Việc Bồi dưỡng giáo viên Ngữ văn để đáp ứng yêu cầu của chương trình mới là một nhiệm vụ quan trọng. Cần có các chương trình bồi dưỡng chuyên sâu, tập trung vào các kỹ năng giảng dạy tích cực, ứng dụng công nghệ thông tin và đánh giá học sinh theo chuẩn mới. Theo số liệu khảo sát, một số trường THCS tại Điện Biên vẫn còn thiếu trang thiết bị dạy học hiện đại, ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy.

2.1. Thiếu hụt nguồn lực và cơ sở vật chất cho dạy học Ngữ văn

Nhiều trường THCS tại Điện Biên còn thiếu phòng học chức năng, thiết bị dạy học hiện đại và tài liệu tham khảo. Điều này gây khó khăn cho việc triển khai các phương pháp giảng dạy tích cực và tạo môi trường học tập sáng tạo cho học sinh. Cần có sự đầu tư mạnh mẽ hơn từ các cấp quản lý để cải thiện cơ sở vật chất cho các trường THCS.

2.2. Rào cản ngôn ngữ và văn hóa trong dạy học Ngữ văn

Sự khác biệt về ngôn ngữ và văn hóa giữa các dân tộc thiểu số gây khó khăn cho việc tiếp cận nội dung và phương pháp học tập mới. Giáo viên cần có sự nhạy bén về văn hóa và áp dụng các phương pháp giảng dạy phù hợp với đặc điểm của từng đối tượng học sinh. Sử dụng Dạy học Ngữ văn tích hợp các yếu tố văn hóa dân tộc là một giải pháp hiệu quả.

2.3. Hạn chế về năng lực của giáo viên Ngữ văn

Một bộ phận giáo viên còn lúng túng trong việc áp dụng các phương pháp giảng dạy tích cực, sử dụng công nghệ thông tin và đánh giá học sinh theo chuẩn mới. Cần tăng cường các hoạt động bồi dưỡng chuyên môn, tạo điều kiện cho giáo viên được học hỏi kinh nghiệm từ các đồng nghiệp giỏi và tham gia các khóa đào tạo nâng cao trình độ.

III. Giải pháp Quản lý Dạy học Ngữ văn theo CT mới ở Điện Biên

Để giải quyết những thách thức trên, cần có các giải pháp đồng bộ và hiệu quả. Giải pháp quản lý dạy học Ngữ văn cần tập trung vào việc nâng cao năng lực cho giáo viên, cải thiện cơ sở vật chất, tăng cường sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Quan trọng nhất là cần tạo ra môi trường học tập thân thiện, khuyến khích sự sáng tạo và phát triển toàn diện của học sinh. Cần phải Quản lý chuyên môn Ngữ văn hiệu quả, tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn định kỳ để giáo viên trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ các phương pháp giảng dạy hay và giải quyết các vấn đề khó khăn.

3.1. Tăng cường bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên Ngữ văn

Tổ chức các khóa tập huấn, hội thảo chuyên đề về phương pháp giảng dạy tích cực, ứng dụng công nghệ thông tin và đánh giá học sinh theo chuẩn mới. Khuyến khích giáo viên tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học, viết sáng kiến kinh nghiệm và chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy với đồng nghiệp.

3.2. Cải thiện cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học Ngữ văn

Đầu tư xây dựng phòng học chức năng, trang bị thiết bị dạy học hiện đại và cung cấp tài liệu tham khảo cho các trường THCS. Xây dựng thư viện điện tử, tạo điều kiện cho học sinh tiếp cận nguồn tài liệu phong phú và đa dạng.

3.3. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Ngữ văn

Khuyến khích giáo viên sử dụng các phần mềm, ứng dụng và công cụ trực tuyến để thiết kế bài giảng và tổ chức các hoạt động học tập. Xây dựng hệ thống bài tập và kiểm tra trực tuyến, giúp học sinh tự đánh giá năng lực của mình.

IV. Vận dụng Phương pháp Dạy học tích cực Ngữ văn THCS

Việc Vận dụng phương pháp dạy học tích cực Ngữ văn là yếu tố then chốt để nâng cao chất lượng. Cần tạo điều kiện cho học sinh tham gia vào các hoạt động thảo luận, tranh luận, làm việc nhóm và thực hiện các dự án học tập. Dạy học Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực của người học là một xu hướng tất yếu. Giáo viên cần thay đổi vai trò từ người truyền đạt kiến thức sang người hướng dẫn, hỗ trợ học sinh tự khám phá và lĩnh hội kiến thức. Theo Jean Piaget cho rằng: Sự học tập chính là sự phát triển các “cấu trúc sơ khai”, là kết quả của một quá trình năng động tìm kiếm thế quân bình giữa chủ thể và môi trường thông qua quá trình “đồng hóa”.

4.1. Sử dụng kỹ thuật dạy học Khăn trải bàn trong thảo luận nhóm

Kỹ thuật này giúp học sinh chia sẻ ý kiến cá nhân và tổng hợp ý kiến của nhóm một cách hiệu quả. Mỗi thành viên viết ý kiến của mình vào một góc của tờ giấy, sau đó nhóm trưởng tổng hợp các ý kiến và viết vào phần trung tâm của tờ giấy.

4.2. Tổ chức trò chơi học tập để tạo hứng thú cho học sinh

Sử dụng các trò chơi như "Ai nhanh hơn", "Giải ô chữ" hoặc "Đóng vai" để ôn tập kiến thức và rèn luyện kỹ năng cho học sinh. Lồng ghép nội dung bài học vào các trò chơi một cách khéo léo để học sinh tiếp thu kiến thức một cách tự nhiên và dễ dàng.

4.3. Giao nhiệm vụ dự án để phát triển năng lực sáng tạo và làm việc nhóm

Yêu cầu học sinh thực hiện các dự án nghiên cứu về các chủ đề liên quan đến văn học, lịch sử hoặc văn hóa. Khuyến khích học sinh sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin để thu thập, xử lý thông tin và trình bày kết quả nghiên cứu.

V. Đánh giá Học sinh Ngữ văn THCS theo CT mới ở Điện Biên

Đánh giá học sinh Ngữ văn THCS theo chương trình mới cần chú trọng đến sự phát triển toàn diện về phẩm chất và năng lực. Việc đánh giá không chỉ dựa vào điểm số mà còn dựa vào quá trình học tập và rèn luyện của học sinh. Cần sử dụng các hình thức đánh giá đa dạng như bài tập thực hành, dự án học tập, thuyết trình và tự đánh giá. Theo thông tư 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đánh giá trong môn Ngữ văn thực hiện bằng hai cách: đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì. Đánh giá thường xuyên được thực hiện liên tục trong suốt quá trình dạy học, do giáo viên môn học tổ chức; hình thức đánh giá gồm: giáo viên đánh giá học sinh, học sinh đánh giá lẫn nhau, học sinh tự đánh giá.

5.1. Đánh giá thường xuyên thông qua các hoạt động trên lớp

Quan sát và ghi chép về sự tham gia của học sinh vào các hoạt động thảo luận, tranh luận và làm việc nhóm. Đánh giá khả năng trả lời câu hỏi, giải quyết vấn đề và trình bày ý kiến của học sinh.

5.2. Đánh giá định kỳ bằng bài kiểm tra và bài thi

Sử dụng các hình thức kiểm tra, đánh giá đa dạng như trắc nghiệm, tự luận và kết hợp cả hai. Thiết kế các bài kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển năng lực, chú trọng đến khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn.

5.3. Hướng dẫn học sinh tự đánh giá năng lực

Giúp học sinh hiểu rõ mục tiêu học tập và tiêu chí đánh giá. Khuyến khích học sinh tự đánh giá năng lực của mình và đưa ra các biện pháp cải thiện.

VI. Kết luận về Quản lý Dạy học Ngữ văn THCS Điện Biên

Việc Quản lý dạy học Ngữ văn THCS Điện Biên theo CT mới là một quá trình lâu dài và đòi hỏi sự nỗ lực của tất cả các bên liên quan. Tuy nhiên, với sự quyết tâm và đồng lòng, chắc chắn sẽ đạt được những thành công đáng kể. Nâng cao chất lượng dạy học không chỉ giúp học sinh phát triển toàn diện mà còn góp phần xây dựng một xã hội văn minh và giàu mạnh. Nghiên cứu của Lê Thị Bích Hảo chỉ ra rằng việc QLHĐ DH đã thực sự trở thành mối quan tâm của nhiều nhà giáo dục. Bởi qua việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn, các nhà giáo dục mới có thể quản lý tốt nhà trường, nâng cao chất lượng dạy và học.

6.1. Tầm quan trọng của sự phối hợp giữa nhà trường gia đình và xã hội

Tạo môi trường học tập thân thiện, an toàn và khuyến khích sự tham gia của phụ huynh vào các hoạt động của nhà trường. Phối hợp với các tổ chức xã hội để cung cấp nguồn lực và hỗ trợ cho học sinh.

6.2. Tiếp tục đổi mới và sáng tạo trong quản lý và dạy học Ngữ văn

Thường xuyên cập nhật kiến thức và kỹ năng mới, áp dụng các phương pháp quản lý và giảng dạy tiên tiến. Khuyến khích sự sáng tạo và đổi mới trong hoạt động dạy và học.

6.3. Xây dựng đội ngũ giáo viên Ngữ văn tâm huyết giỏi chuyên môn

Tạo điều kiện cho giáo viên được phát triển nghề nghiệp, nâng cao thu nhập và có cuộc sống ổn định. Tôn vinh và khen thưởng những giáo viên có thành tích xuất sắc trong công tác giảng dạy.

22/09/2025
Quản lý hoạt động dạy học môn ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường trung học cơ sở huyện điện biên tỉnh điện biên

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN THEO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề Có thể thấy, việc quản lí HĐDH nói chung và nâng cao chất lượng quản lí HĐDH nói riêng là một vấn đề được nhiều tác giả trên thế giới cũng như ở Việt Nam quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Thực tế cho thấy có khá nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này, cụ thể như sau: 1. Trên thế giới J.Comenxki (1592-1670) - Nhà giáo dục vĩ đại người Tiệp Khắc đã đưa ra những yêu cầu cải tổ nền GD theo hướng phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của người học.

Ông cho rằng, dạy học thế nào để người học thích thú học tập và có những cố gắng bản thân để nắm lấy tri thức. Tác giả phát biểu: “Tôi thường bồi dưỡng cho học sinh của tôi tinh thần độc lập trong quan sát, trong đàm thoại và trong việc ứng dụng tri thức vào thực tiễn”. Ông còn viết: “GD có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán đúng đắn, phát triển nhân cách… Hãy tìm ra phương pháp cho GV dạy ít hơn, HS học được nhiều hơn” [6]. Đến thế kỷ XX, Nhà triết học Mỹ đồng thời là nhà tâm lý học, nhà giáo dục vĩ đại - John Dewey (1859 - 1952) đã có đóng góp lớn lao vào công cuộc cải cách giáo dục của nhân loại.

Các Tư tưởng triết học và sự nghiệp giáo dục đồ sộ của ông đã có ảnh hưởng to lớn làm thay đổi nền giáo dục Mỹ suốt thế kỷ XX và sang cả thế kỷ XXI.Dewey cho rằng: “Trường học không đơn thuần là nơi người lớn dạy cho trẻ con các bài học kiến thức và bài học luân lý. Trường học phải là một cộng đồng dân chủ trong đó mọi hoạt động được tập trung nhằm tạo ra hiệu quả cao nhất trong việc chia sẻ cho người học di sản tri thức nhân loại và làm cho họ có thể sử dụng tài năng của mình vào mục đích xã hội. Do đó, giáo dục là một hoạt động của đời sống, là bản thân quá trình sống của trẻ em chứ không phải là một sự chuẩn bị cho một cuộc sống tương lai mơ hồ nào đấy. Nhà trường có nhiệm vụ tạo ra những điều kiện tốt nhất để cá nhân người học phát huy tối đa năng lực tiềm tàng của mình, tạo dựng kiến thức cho mình bằng toàn bộ công cụ của chính mình như: đôi mắt, đôi tai, đôi tay, đôi chân và đặc biệt là tư duy” [6].

Với tư tưởng nêu trên, người học có thể phát triển toàn vẹn mọi khả năng của mình để tham gia vào đời sống xã hội. Nhà trường và giáo viên phải tạo ra một môi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn trường trong đó những hoạt động của trẻ chứa đựng cả những tình huống khó khăn, để từ đó người học tự tìm tòi và xây dựng kiến thức thông qua “kinh nghiệm” và “tư duy”, thông qua “trải nghiệm” của chính bản thân. Học sinh là mục đích tồn tại của hoạt động giáo dục. Học sinh phải liên tục được khuyến khích tham gia vào các hoạt động của nhà trường.

Giáo viên đóng vai trò là tác nhân quan trọng bậc nhất cho sự khai phóng của người học. Muốn vậy, giáo viên phải là một chuyên gia được đào tạo tốt, một người hiểu biết giáo dục toàn diện. Nội dung của giáo dục phải phản ánh sự phát triển của loài người. Nội dung phải mang tính tăng tiến.

Chương trình học phải hiện đại lên cùng với sự phát triển của loài người. Phương pháp dạy học phải gắn chặt với đối tượng và nội dung. Phương pháp là phương pháp của năng lực và hứng thú của trẻ em, của cá nhân đang trưởng thành, chứ không phải là phương pháp của người lớn - những kẻ đã trưởng thành. Phương pháp là sự trình bày rõ ràng biện pháp triển khai nội dung của một kinh nghiệm đang diễn ra để nó đem lại hiệu quả.

Bởi vậy, không thể tách rời phương pháp khỏi nội dung. Nhà Tâm lý học lỗi lạc người Thụy sỹ Jean Piaget (1896 - 1980), dành cả cuộc đời nghiên cứu về sự phát triển nhận thức của trẻ em, thì cho rằng: Sự học tập chính là sự phát triển các “cấu trúc sơ khai”, là kết quả của một quá trình năng động tìm kiếm thế quân bình giữa chủ thể và môi trường thông qua quá trình “đồng hóa”. “điều tiết” và “thích nghi”. Trong quá trình ấy, chủ thể biến đổi các yếu tố của môi trường để có thể sáp nhập chúng vào cấu trúc nhận thức của mình.

Điều tiết (accommodation): khi vật thể hay tình huống cưỡng lại những “cấu trúc sơ khai” có sẵn của chủ thể (nó mới lạ so với khuôn khổ nhận thức đã có) thì cơ chế điều tiết ở trẻ làm việc, kéo theo sự biến đổi cấu trúc nhận thức của chủ thể theo cách cho phép nó sáp nhập các yếu tố là đối tượng của việc học tập. Và như thế, chủ thể bị môi trường làm biến đổi và tiến hoá, hoàn thiện các “cấu trúc sơ khai” của mình.Tất cả quá trình thu nhận được/ học được những cái mới đều là kết quả sự điều phối giữa đồng hoá các yếu tố của môi trường vào các “cấu trúc sơ khai” đã có của chủ thể, đồng thời điều tiết các “cấu trúc sơ khai” ấy với các yếu tố mới của môi trường. Có thể nói: tư tưởng giáo dục của J. Piaget là đào tạo những người sáng tạo tương lai thay vì những kẻ tuân phục mô hình hiện hành có sẵn của người lớn tỏ ra đúng đắn trong bối cảnh xã hội ngày nay.

Ở phương Đông cổ đại, nhất là ở Trung Hoa và Ấn Độ, đã sớm xuất hiện những tư tưởng về quản lý nói chung và quản lý hoạt động dạy học nói riêng. Khổng Tử (551- 479 TCN) cho rằng dạy học là phải "Dùng cách gợi mở, đi từ gần đến xa, từ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn đơn giản đến phức tạp, nhưng vẫn đòi hỏi người học phải tích cực suy nghĩ, đòi hỏi học trò phải luyện tập, phải hình thành về nề nếp, thói quen trong học tập" và phải "Học không biết chán, dạy không biết mỏi". Ở phương Tây, nhà triết học nổi tiếng Xôcrat cho rằng: "Những người nào biết cách sử dụng con người thì sẽ điều khiển được công việc, hoặc cá nhân hay tập thể một cách sáng suốt. Những người không biết làm như vậy sẽ mắc sai lầm trong công việc".

Tư tưởng về QL con người và những yêu cầu về người đứng đầu cai trị dân còn tìm thấy trong quan điểm của các nhà triết học như Platon, RoBer Owen (1771-1858), F.Tay Lo (1856-1915) - "cha đẻ của thuyết quản lý theo khoa học". Đặc biệt, đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã có hàng loạt công trình với nhiều cách tiếp cận khác nhau về QL: Tính khoa học và nghệ thuật quản lý, những động cơ để thúc đẩy một tổ chức phát triển, làm thế nào để việc ra quyết định QL đạt hiệu quả cao. Chính những điều này đã cho chúng ta thấy rõ xu hướng chuyển từ QL hướng vào "giới chủ" tới QL hướng vào "chủ và thợ", chuyển sang QL hướng vào "khách hàng", theo nhu cầu của khách hàng; xu hướng chuyển từ QL theo mục tiêu hướng tới QL theo quá trình; từ việc QL bằng sự áp đặt, mệnh lệnh, chuyên quyền theo ngẫu hứng của người QL hướng tới QL bằng khoa học (với những phương pháp, nguyên tắc, qui trình khoa học) và dân chủ. Trong lĩnh vực giáo dục, khoa học giáo dục đã thực sự biến đổi về lượng và chất.

Các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã định hướng cho hoạt động giáo dục như các qui luật "Sự hình thành cá nhân con người"; "Tính qui định về kinh tế - xã hội đối với giáo dục". Các qui luật này đặt ra yêu cầu đối với QLGD và tính ưu việt của xã hội đối với việc tạo ra các phương tiện và điều kiện cần thiết cho GD. Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhiều nhà khoa học giáo dục đã có những thành tựu khoa học đáng trân trọng về QLGD và quản lý dạy học. Như vậy, các tác giả nước ngoài trong nghiên cứu và quan điểm của mình đã chỉ ra nhưng thay đổi tích cực cần phải thực hiện, đặc biệt với vai trò của nhà giáo.

những kết quả của sự thay đổi chỉ có được trên cơ sở sự thay đổi mang tính đồng bộ, tổng thể và đặc biệt thể hiện ở vai trò của giáo viên về phương pháp dạy học, kỹ thuật dạy học hiện nay. Ở Việt Nam Các vấn đề có liên quan đến PPDH cũng rất được quan tâm, đặc biệt sau năm 1986 (được coi là mốc của đổi mới tư duy). Nhiều tác giả có các công trình nghiên cứu về vấn đề này như: Phạm Minh Hạc, Nguyễn Kỳ, Trần Bá Hoành, Trần Kiều, Nguyễn Hữu Chí, và một số các nhà giáo giàu kinh nghiệm cũng quan tâm đến vấn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn đề PPDH và phát triển lý luận dạy học chung vào thực tiễn dạy học ở Việt Nam: Văn Như Cương, Tôn Thân… Về vấn đề quản lý đổi mới PPDH và quản lý chất lượng, hiệu quả dạy học phải kể đến các công trình nghiên cứu của: Quách Tuấn Ngọc, Trần Kiểm, Trần Kiều, Trần Bá Hoành,. luôn lấy người học làm trung tâm với ý tưởng cốt lõi là người học phải tích cực, chủ động, sáng tạo trong quá trình học tập.

Quan điểm này hoàn toàn phù hợp với tinh thần nghị quyết TW 4 khoá VIII về GD-ĐT. Nghị quyết yêu cầu: “Đổi mới mạnh mẽ PPGD, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học”. Nội dung này đã được thể hiện thành quy định pháp luật tại Luật giáo dục, trong đó có yêu cầu cơ bản là: Nội dung GD phải đảm bảo tính cơ bản, toàn diện, thiết thực, hiện đại và có hệ thống; PPGD phải phát huy tính tự giác, tích cực, chủ động sáng tạo của HS, phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vân dụng kiến thức vào thực tiễn. Tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ