CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về đầu tư nước ngoài vào các Khu công nghiệp 1. Khái niệm và phân loại Khu công nghiệp Khái niệm về Khu công nghiệp đã được Luật hóa trong các văn bản pháp luật hiện hành như Luật Đầu tư số 61/2020/QH14 ngày 17/6/2020; Nghị định số 82/2018/NĐ-CP của Chính phủ ngày 22/5/2018 quy định về quản lý Khu công nghiệp và Khu kinh tế. Theo đó: Khu công nghiệp là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp.[10] Khu công nghiệp gồm nhiều loại hình khác nhau, bao gồm: Khu chế xuất, khu công nghiệp hỗ trợ, khu công nghiệp sinh thái.
- Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu. Khu chế xuất được ngăn cách với khu vực bên ngoài theo các quy định áp dụng đối với khu phi thuế quan quy định tại pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; - Khu công nghiệp hỗ trợ là khu công nghiệp chuyên sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ, thực hiện dịch vụ cho sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ. Tỷ lệ diện tích đất cho các dự án đầu tư vào ngành nghề công nghiệp hỗ trợ thuê, thuê lại tối thiểu đạt 60% diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê của khu công nghiệp; - Khu công nghiệp sinh thái là khu công nghiệp, trong đó có các doanh nghiệp trong khu công nghiệp tham gia vào hoạt động sản xuất sạch hơn và sử dụng hiệu quả tài nguyên, có sự liên kết, hợp tác trong sản xuất để thực hiện hoạt động cộng sinh công nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, môi trường, xã hội của các doanh nghiệp.[10] 13 + Quản lý nhà nước đối với khu công nghiệp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về khu công nghiệp trong phạm vi cả nước trên cơ sở phân công nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của từng bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Ban quản lý khu công nghiệp, khu kinh tế theo quy định tại Nghị định này; chỉ đạo việc xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển và ban hành chính sách, văn bản quy phạm pháp luật về khu công nghiệp, khu kinh tế. - Xây dựng và chỉ đạo thực hiện quy hoạch, kế hoạch và chính sách về phát triển khu công nghiệp, khu kinh tế.
- Ban hành, hướng dẫn, phổ biến và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật và tiêu chuẩn quy phạm kỹ thuật có liên quan đến việc thành lập, đầu tư, xây dựng, phát triển và quản lý hoạt động của khu công nghiệp, khu kinh tế; xây dựng và quản lý hệ thống thông tin về khu công nghiệp, khu kinh tế; tổ chức thực hiện hoạt động xúc tiến đầu tư vào khu công nghiệp, khu kinh tế. - Cấp, điều chỉnh, thu hồi văn bản quyết định chủ trương đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, các loại giấy phép, chứng chỉ, chứng nhận; tổ chức thực hiện các thủ tục hành chính nhà nước và dịch vụ hỗ trợ có liên quan đến hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh của các tổ chức, cá nhân trong khu công nghiệp, khu kinh tế. - Tổ chức bộ máy, đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ cho cơ quan quản lý nhà nước về khu công nghiệp, khu kinh tế. - Hướng dẫn, hỗ trợ, đánh giá hiệu quả đầu tư, kiểm tra, giám sát, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, khen thưởng, xử lý vi phạm và giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình hình thành và phát triển khu công nghiệp, khu kinh tế.
Nhìn chung, quản lý nhà nước đối với khu công nghiệp bao gồm những nội dung được chia thành ba giai đoạn hình thành và phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất: 14 + Vận động đầu tư thành lập KCN, KCX và Doanh Nghiệp + Thẩm định và cấp giấy phép đầu tư + Quản lý hoạt động của KCN, KCX sau khi đã thành lập Các KCN tại Việt Nam được quản lý theo cơ chế dịch vụ một cửa. Mục đích của cơ chế này là giúp các Doanh nghiệp trong KCN tránh được những rắc rối, phức tạp trong các thủ tục giấy tờ, hành chính… Quản lý theo cơ chế một cửa nhằm tạo ra một cơ quan quản lý Nhà nước có thể đứng ra giải quyết, hoặc phối hợp với các cơ quan khác giải quyết mọi công việc liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các Doanh nghiệp trong khu [10]. Vấn đề chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các Khu công nghiệp + Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài: Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài theo tổ chức Thương mại thế giới – WTO (World Trade Organization) là khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Bên cạnh đó, Quỹ tiền tệ thế giới – IMF (International Moneraty Fund) cũng định nghĩa FDI là một tổ chức kinh tế(nhà đầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác.
Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế đó. Theo đó, mức độ quản lý và quyền quản lý tài sản là hai đặc điểm chính khi phân biệt FDI với các hình thức đầu tư khác như đầu tư vào cổ phiếu, chứng khoán và các công cụ tài chính khác. Khác với loại hình đầu tư FDI có những đặc trưng sau: FDI không chỉ đưa vốn vào nước tiếp nhận đầu tư mà bên cạnh đó còn có cả kỹ thuật, công nghệ, năng lực tiếp thị, kinh nghiệm quản lý. 15 Việc tiếp nhận FDI không làm gia tăng gánh nặng nợ cho nước tiếp nhận đầu tư mà còn giúp nước tiếp nhận đầu tư có điều kiện phát huy tiềm năng kinh tế.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ hình thành nên các doanh nghiệp FDI. Tuy nhiên, việc xác định các doanh nghiệp FDI cũng có nhiều quan niệm khác nhau. Theo Syuthia Day, Wallace (chuyên gia kinh tế Mỹ) thì "đầu tư nước ngoài có thể định nghĩa rộng là việc giành được quyền sở hữu đáng kể trong một công ty ở nước ngoài hay một sự gia tăng khối lượng của một khoản đầu tư ra nước ngoài nhằm đạt đuợc quyền sở hữu đáng kể tài sản của công ty đó, biến nó thành doanh nghiệp chịu sự chi phối của nhà đầu tư nước ngoài"[12]. Theo các nhà kinh tế Trung Quốc, thì đầu tư nước ngoài là nhà đầu tư sở hữu tư bản tại nước nhận đầu tư bằng cách mua hoặc kiểm soát một thực thể kinh tế (doanh nghiệp) của nước đó.
Khoản vốn đầu tư này phải tương ứng với tỷ lệ cổ phần đủ lớn để tạo ảnh hưởng quyết định, chi phối thực thể kinh tế đó. Theo Nghị định của Chính Phủ quy định về quản lý Khu công nghiệp và Khu kinh tế thì đầu tư nước ngoài là việc "nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan" và "Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại"[25] Mặc dù các quan niệm trên không hoàn toàn đồng nhất, nhưng từ đó có thể khái quát các tiêu thức cơ bản để xác định một doanh nghiệp FDI: + Các nhà đầu tư nước ngoài phải sở hữu lượng vốn đủ lớn trong doanh nghiệp để có quyền đưa ra các quyết định ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp. 16 + Thu nhập của doanh nghiệp được trích tái đầu tư mở rộng nhằm mục tiêu phát triển và tồn tại lâu dài ở nước nhận đầu tư. + Doanh nghiệp FDI là một bộ phận của nền kinh tế nước nhận đầu tư, tức là hoạt động của nó tuân theo định hướng chiến lược của nền kinh tế, tuân theo hệ thống pháp luật và thực sự đi vào khai thác các nguồn lực ở nước sở tại.
Với quan niệm như vậy, có thể khái quát về doanh nghiệp FDI: Doanh nghiệp FDI là doanh nghiệp dựa chủ yếu vào vốn của nhà đầu tư nước ngoài, được thành lập và hoạt động theo luật pháp nước sở tại, nhằm khai thác các nguồn lực tại chỗ và tuân theo lợi ích lâu dài của cả chủ sở hữu doanh nghiệp và nền kinh tế nước sở tại [2], [3]. Khái quát quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các Khu công nghiệp 1. Khái niệm quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài trong khu công nghiệp Có nhiều khái niệm về quản lý nhà nước về kinh tế, quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài.Theo GS, TS. Phan Huy Đường (2015).
“Quản lý Nhà nước là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý vào các đối tượng quản lý để điều khiển đối tượng quản lý, nhằm đạt được mục đích đã đề ra” và quản lý nhà nước về kinh tế là: “Quản lý nói chung là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đặt ra trong sự vận động của sự vật”. Vì thế nói đến quản lý là phải nói đến “cơ chế vận hành, tức là cơ chế quản lý như chế độ, chính sách, biện pháp tổ chức, tâm lý xã hội”[23]. “Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh hành vi hoạt động của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ 17 quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội” Quản lý nhà nước nhằm đảm bảo mục đích: “ Tạo môi trường bình đẳng và thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển. Nhà nước cũng giải quyết tốt các quan hệ đối ngoại, tạo thuận lợi cho các hoạt động kinh tế trong nước” [23].