Chương 1: Một số van đề lý luận chung về quyền sở hữu nhà ở của người nước ngoài tại Việt Nam. Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam và một số quốc gia về quyên sở hữu nhà ở của người nước ngoài. Chương 3: Thực trạng thi hành và phương hướng hoàn thiện pháp luật về quyền sở hữu nhà ở của người nước ngoài tại Việt Nam. CHUONG 1 MOT SO VAN DE LY LUAN CHUNG VE QUYEN SO HUU NHA O CUA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 1.1 Một số khái niệm về quyền sở hữu, người nước ngoài và nhà ở thuộc quyền sở hữu của người nước ngoài tại Việt Nam.
Khái niệm, nội dung quyên sở hữu theo pháp luật Việt Nam. Khái niệm về quyên sở hữu. Pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật của các quốc gia trên thế giới đều luôn xác định quyền sở hữu là một trong những quyền cơ bản của công dân, quyền cơ bản của con người cần được bảo vệ và tôn trọng. Điều này đã được khắng định trong nhiều văn kiện, tuyên ngôn quan trọng trên thế giới, cụ thé theo quy định tại Điều 17 Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền của Liên Hợp Quốc năm 1948: “1) Ai cũng có quyên sở hữu, hoặc riêng tư hoặc hin hiệp với người khác.
2) Không ai có thể bị tước đoạt tài sản một cách độc đoán ”. Với một vị thế, vai trò quan trọng như vậy nên Bộ luật dân sự Việt Nam 2005 dành han Phần thứ hai trong bảy phan (Tir diéu 163 đến diéu 279) dé quy định về quyền sở hữu va tài sản. Tài sản và quyền sở hữu là hai khái niệm có mối quan hệ mật thiết với nhau, các quan hệ tài sản luôn xuất phát từ quan hệ sở hữu và quan hệ sở hữu lại là tiền đề, xuất phát điểm cho tính hợp pháp của các quan hệ khác trong đó có quan hệ sở hữu. Bộ luật dân sự 2005 có định nghĩa về quyền sở hữu tại Điều 164 bang cách liệt kê những nội dung của quyên sở hữu và chủ thể của quyền này như sau: “Quyên sở hữu bao gom quyền chiếm hữu, quyền sử dung và quyên định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.
Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác có đủ ba quyên là quyên chiếm hữu, quyên sử dụng, quyên định đoạt tài sản ””. Như vậy có thê hiểu rằng, quyên sở hữu là quyền năng của chủ thé trong một phạm vi nhất định theo quy định của pháp luật được thực hiện các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản. Quy định về quyền sở hữu theo Bộ luật dân sự 2005 nói trên hoàn toàn không có sự khác biệt so với các quy định về quyền sở hữu trong Bộ luật dân sự 1995. Trước đây khi chưa có Bộ luật dân sự, vấn đề tài sản và quyền sở hữu chủ yếu được quy định trong Hiến pháp và trong các văn bản pháp luật chuyên ngành như Luật đất đai, Pháp lệnh hợp đồng dân sự, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, Luật công ty.Tuy nhiên các văn bản này đều chưa định nghĩa một cách rõ ràng về cụ thé về khái niệm quyền sở hữu cho đến khi Bộ luật dân sự ra đời.
Bộ luật dân sự ra đời cùng với đó định nghĩa khái niệm quyền sở hữu đã tạo ra tiền đề, cơ sở pháp ly cho các chế định khác cũng như củng có, phát triển chế định về quyền sở hữu trong các văn bản pháp luật chuyên ngành như trong Luật nhà ở, Luật doanh nghiệp, Luật đất đai. Nội dung của quyển sở hữu. - Quyên chiém hữu. Theo quy định tại điều 182 Bộ luật dân sự 2005, chiếm hữu là một trong những nội dung cơ bản của quyền sở hữu bao gồm quyền nắm giữ và quyền quản lý tài sản.
Nam giữ tức là việc người chiếm hữu giữ tài sản trong phạm vi kiểm soát và làm chủ của mình trong khi đó quản lý lại có ý nghĩa rộng hơn. Xét về mặt chủ thể, người chiếm hữu có thể là chủ sở hữu tài sản và cũng có thể không phải là chủ sở hữu tài sản. Chính vì thế mà pháp luật Việt Nam chia việc chiếm hữu thành hai loại là chiếm hữu có căn cứ pháp luật và chiếm hữu không có căn cứ pháp luật. - Chiém hữu có căn cứ pháp luật: Theo quy định tại Điều 183 Bộ luật dân sự 2005 thì chiếm hữu có căn cứ pháp luật được hiểu là việc người chiếm hữu thực sự có quyền chiếm hữu đối với tài sản của mình dựa trên căn cứ do pháp luật quy định như được chuyển giao tài sản thông qua giao dich dân su; phát hiện và giữ tài sản vô chủ.Người chiếm hữu tài sản của người khác có căn cứ pháp luật chỉ thực hiện quyền chiếm hữu trong phạm vi, theo cách thức và thời hạn do chủ sở hữu xác định.
- Chiém hữu không có căn cứ pháp luật: Được hiểu là việc người chiếm hữu có quyền nắm giữ và quản lý tài sản không dựa trên các căn cứ mà pháp luật quy định. Hay nói cách khác, chiếm hữu không có căn cứ pháp luật là trường hợp một người thực hiện quyền chiếm hữu của chủ sở hữu trong khi chủ sở hữu của tài sản lại là người khác. - Quyên sử dụng. Theo quy định tại điều 192 Bộ luật dân sự 2005: “Quyên sử dụng là quyên khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản”.
Khai thác công dụng của tài sản được hiểu là việc dùng tài sản dé phuc vu nhu cầu, mục dich của bản thân ví dụ như việc cho thuê nhà để hưởng các khoản lợi nhuận, cho vay tài sản dé hưởng lợi tức cho vay'.Sử dụng tai sản là một trong những quyền năng quan trọng của chủ sở hữu, chủ sử dụng có toàn quyền khai thác công dụng, hưởng lợi tức từ tài sản miễn sao không làm ảnh hưởng tới lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Cũng giống như quyền chiếm hữu, quyền sử dụng dưới góc độ chủ thê thì người sử dụng có thé không phải là chủ sở hữu tài sản đồng thời cũng có thé là chủ sở hữu tài sản. Tùy vào từng trường hợp sử dụng tài sản có căn cứ pháp luật hay sử dụng tài sản trái pháp luật mà người sử dụng được hoặc không được hưởng hoa lợi, lợi tức cũng như khai thác công dụng từ tài sản đó. - Quyên định đoạt.
Theo quy định tại điều 195 Bộ luật dân sự 2005: “Quyển định đoạt là quyên chuyển giao quyên sở hữu tài sản hoặc từ bỏ quyên sở hữu tài sản”. Người không phải là chủ sở hữu chỉ được quyền định đoạt tài sản người khác trong trường hợp được ủy quyền định đoạt hoặc trong trường hợp do pháp luật quy định như trưng mua, trưng thu tài sản. VỀ nguyên tắc, chủ sở hữu có toàn quyên định đoạt tài sản của mình miên sao đảm bảo hài hòa giữa lợi ích !T,S Trần Thị Huệ- Khoa Luật dân sự- Đại học Luật Hà Nội (2008), “Quyền sở hữu và quyền năng của chủ sở hữu”, Thông tin pháp luật dân sự tại địa chỉ: https://thongtinphapluatdansu.com/2008/01/03/35325/ ngày truy cập 12/6/2016. của chủ sở hữu, lợi ích của Nhà nước, trừ trường hợp pháp luật hạn chế hoặc cam quyén định đoạt của chủ sở hữu tai san như hạn chế định đoạt tai sản là quyền sử dụng đất trong trường hợp đã có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cụ thể, thông báo thu hồi đất, quyết định thu hồi đất của cơ quan có thâm quyền (Khoản 2 Diéu 49 Luật đất dai 2013), hay như trường hợp chủ sở hữu nhà ở là người nước ngoài chỉ được phép chuyên nhượng tài sản là nhà ở cho người đủ điều kiện sở hữu mà không nhằm mục đích kinh doanh (Khoản 8 Diéu 79 Nghị định 99/2015/NĐ-CP hướng dan thi hành chỉ tiết Luật nhà ở 2014).
Khái niệm người nước ngoài và nhà ở thuộc quyền sở hữu của nguoi nudc Hgoài. Khái niém Hgười nwéc ngoài. Trước đây khái niệm người nước ngoài đã được đề cập trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau như trong Khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh Nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2000 quy định: “Người nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam”. Pháp lệnh này còn đưa ra khái niệm về “Người nước ngoài thường trú” và khái niệm “Người nước ngoài tam tru” theo đó người nước ngoài thường trú là người nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam, người nước ngoài tạm trú là người nước ngoài cư trú có thời hạn ở Việt Nam.
Ngoài ra theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 51/2009/NĐ-CP ngày 03/06/2009 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị quyết số 19/2008/QH12 ngày 03 tháng 06 năm 2008 của Quốc hội về việc thí điểm cho tổ chức, cá nhân nước ngoài mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam cũng định nghĩa về “cá nhân nước ngoài” và “doanh nghiệp có vốn dau tư nước ngoài” như sau: “1. Cá nhân nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam 2. Doanh nghiệp có vốn dau tư nước ngoài là doanh nghiệp do nhà dau tư nước ngoài thành lập dé thực hiện hoạt động đâu tu nước ngoài tại Việt Nam hoặc doanh nghiệp Việt Nam do nhà dau tư nước ngoài mua cô phan, 10 sáp nhập, mua lai để trực tiếp quản lý theo quy định của pháp luật Việt Nam; ” Hiện nay, ở Việt Nam khái niệm người nước ngoài được quy định ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể: Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam 2014 thì khái niệm người nước ngoài được định nghĩa: “Người nước ngoài là người mang giấy tờ xác định quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch nhập cảnh, xuất cảnh, quả cảnh, cư trú tai Việt Nam `. Theo quy định tại Khoản 5 Điều 3 Luật số 24/2008/QH12 ngày 13 tháng 11 năm 2008 của Quốc Hội về quốc tịch: “Người nước ngoài cư tru ở Việt Nam là công dân nước ngoài và người không quốc tịch thường tru hoặc tạm trú ở Việt Nam”.
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 Nghị định số 138/2006/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ quy định chỉ tiết thi hành các quy định của Bộ luật dân sự 2005 về quan hệ dân sự có yếu tô nước ngoài: “Người nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam, bao gom người có quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch”.