Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về Quản lý đầu tư công 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Nghiên cứu về quản lý chi phí trong xây dựng của Peter E. Love, Zahir Irani (2002) cho rằng đối với một dự án, việc quản lý chỉ phí quản lý trong xây dựng là rất cần thiết để xác định chi phí chất lượng của một dự án xây dựng.
Các thông tin cập nhật trong quá trình quản lý được phân tích, thảo luận giúp cho công tác phân loại chi phí chất lượng được rõ ràng. Nghiên cứu đã được đưa vào thử nghiệm và triển khai thực hiện bằng một chương trình phần mềm quản lý thông tin chỉ phí trong xây dựng. Chương trình này được sử dung dé xác định chi phí và nguyên nhân gây ra các thiệt hại trong các dự án đầu tư. Thông qua đó, đã được các chuyên gia nghiên cứu xác định những thiếu sót trong hoạt động quản lý liên quan đến dự án và có những giải pháp thích hợp đề cải thiện phương thức quản lý của họ cho các dự án trong tương lai.
Những lợi ích và hạn chế của chương trình quản ly chi phí chất lượng trong xây dựng cũng được tổng hợp, phân tích, đánh giá rút kinh nghiệm. Love, Zahir Irani (2002). A project management quality cost information system for the construction industry. Trong bai A symptom of a dysfunctional supply chain, European Journal of Purchasing and Supply Management 5 (1), 1999, pp.
Mandal, Rework cho rang, trong cac du an xay dung, cac hoat động dau tu thường được chia thành các lĩnh vực quản lý khác nhau va được thực hiện bởi các chuyên gia được đào tạo từ các ngành học khác nhau (ví dụ như kỹ sư, kiến trúc sư, nhà thầu). Love, 2002 của tạp chí quản lý và kỹ thuật xây dựng nghiên cứu về ảnh hưởng của loại hình dự án và phương thức hoạt động về chi phí sửa chữa trong việc xây dựng các dự án xây dựng cho rằng, công tác quản lý và sử dụng phần mềm hệ thống thông tin chất lượng dé hỗ trợ hoạt động quản lý chất lượng trong các dự án xây dựng là rất quan trọng. Đồng thời, sự thiếu sót của hệ thống quản lý chất lượng là nguyên nhân gây ra cho nhiều tô chức về cách thức phát triển để duy trì kiểm soát với trách nhiệm riêng của họ. Như vậy, báo cáo, thu thập thông tin và quản lý trong dự án trở thành sự kết hợp đồng nhất.
Vấn đề lãng phí thời gian, chi phí không cần thiết, tăng lỗi kỹ thuật dẫn đến phải thực hiện xây dựng và sửa chữa lại dự án là yếu tố chính gây ra vượt mức độ, trễ thời gian và tăng chỉ phí xây dựng dự án. Việc sử dụng không hiệu quả công nghệ thông tin trong quản lý và trao đổi thông tin làm ảnh hưởng và tăng thiệt hại cho dự án, do vậy, việc thiết kế và phát triển của hệ thống quản lý chất lượng cho các dự án xây dựng cần phải được phổ biến với nhiều cách tiếp cận khác nhau dé quản lý chất lượng của dự án. Love, Auditing the indirect consequences of rework in construction: a case based approach, Managerial Auditing Journal 17 (3), pp. Có nhiều yêu tô ảnh hưởng đến việc thực hiện các dự án công, trong đó có kiểm soát chất lượng dự án của các nhà thầu do các cơ quan Nhà nước thực hiện.
Tuy nhiên, hầu hết các nhà thầu đều có quan điểm khác nhau về xác định các yếu tố có ảnh hưởng chính của một dự án đối với sự khác biệt trong vai trò và trách nhiệm của mình. Đôi khi những khác biệt này là nguyên nhân chính gây ra khiếm khuyết của một dự án, chậm trễ tiến độ. Dé thực hiện một dự án thành công, sự khác biệt trong quan điểm của hai thực thé này trước hết phải được hiểu rõ. (Chau Ping Yang, 2007.
Factors affecting the performance ofpublic projects in Taiwan. Journal of construction research, vol 7). Issabelle Louis nghiên cứu thực trạng của ngành công nghiệp xây dựng Pháp. Nghiên cứu này mô tả ngắn gọn cái nhìn về vai trò và ảnh hưởng của chính phủ đối với nền kinh tế.
Nghiên cứu về ngành công nghiệp xây dựng của nước Pháp từ thế kỷ 18 về phía trước, có tác động rất mạnh mẽ đến thực trạng trong ngành công nghiệp xây dựng hiện nay. Đặc điểm của ngành công nghiệp xây dựng tập trung vào cấu trúc của các công ty xây dựng và phương thức hoạt động của họ. Mô tả của ngành công nghiệp xây dựng bao gồm tình hình các yếu tố đầu vào khác nhau như vật liệu, tài chính, lao động, thiết bị. Ngoài ra, việc điều tra các khu vực nghiên cứu và phát triển ngành công nghiệp xây dựng cũng được thảo luận.
Một nội dung quan tâm đặc biệt là tình hình của các công ty xây dựng Pháp liên quan trong thị trường Mỹ vì điều này dường như là khu vực phát triển tương lai cho ho. 1987, Construction industry in France, Thesis of Masteral). “Nghiên cứu lich sử phát triển đối với quan lý xây dựng hệ thống đấu thâu ở Nhật Bản” của Hiroshi Isohata, 2009 nghiên cứu về lịch sử phát triển của hệ thống đấu thầu xây dựng cho các công trình công cộng. Nghiên cứu đã phản ánh công tác mua sắm vật tư và quản lý hệ thống xây dựng là sử dụng công nghệ phần mềm đối với công tác tổ chức đấu thầu, ký kết hợp đồng, và quản lý tiến độ xây dựng các công trình ở Nhật Bản.
Nghiên cứu đã chỉ ra các ton tại do yếu tố lịch sử để lại đã bị ảnh hưởng đến công tác mua sắm vật tư và đấu thầu xây dựng cho các công trình công cộng. Nghiên cứu đã đưa ra giải pháp cho việc kiểm tra quá trình thực hiện hợp đồng trong mua sắm vật tư, quản lý xây dựng, quản lý đấu thầu các công trình công cộng ở Nhật Bản. Nghiên cứu về “Vai trò - trách nhiệm của tư vấn quản lý trong xây dựng công nghiệp Trung Quốc" của Tony Y. Trong suốt hai thập ky qua, thế giới đã chứng kiến sự phát triển như vũ bão của nền kinh tế Trung Quốc.
Từ khi Trung Quoc "mở cửa chính sách" năm 1978, Trung Quoc đã cải cách cơ chế chính sách và đạt được những thành công đáng kể trong phát triển kinh tế. Các chính sách đã tập chung thúc đây xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển, theo đó ngành công nghiệp xây dựng Trung Quốc đã đạt mức tăng trưởng phi thường và đã trở thành xương sống của nền kinh tế Trung Quốc. Tình hình nghiên cứu trong nước Nghiên cứu Luận án tiến sĩ về “Đổi mới cơ chế quản lý sử dụng vốn đâu tư xây dựng cơ bản của nhà nước" của Trần Văn Hồng tai Học viện tài chính. Nghiên cứu đã phân tích cơ chế quản lý sử dụng vốn đầu tư XDCB của Nhà nước ở Việt Nam qua các thời kỳ, trong đó đã khái quát và mở rộng những lý luận cơ bản về nguồn von, về quản lý sử dụng vốn đầu tư XDCB của Nhà nước.
Nghiên cứu đã hệ thống hóa các cơ chế chính sách, cụ thể từ Nghị định 232/CP ngày 6/6/1981 về Điều lệ quản lý xây dựng cơ bản đến các Nghị định 71/2001/NĐ-CP về ưu đãi đầu tư xây dựng ban hành năm 2001, đến Nghị định 16/2005/NĐ-CP về quản lý các dự án đầu tư được ban hành năm 2005; từ đó rút ra những ưu điểm, tồn tại hạn chế của chính sách quản lý sử dụng vốn đầu tư XDCB của Nhà nước trong giai đoạn này. Vận dụng bài học kinh nghiệm của các nước trên thế giới, kết hợp với những lý luận đã được nghiên cứu, luận án đã đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế chính sách về quản lý sử dụng, quản lý vốn đầu tu XDCB như xác định chính xác đối tượng đầu tư theo các nguồn vốn như: vốn NSNN, tin dụng Nhà nước; Kiến nghị chuyển hướng đầu tư theo hình thức cấp phát trực tiếp không hoàn lại sang hình thức cho vay nhằm xoá bỏ bao cấp, nâng cao trách nhiệm đối với CDT; hạn chế tối đa sự can thiệp hành chính của các cơ quan quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp trong quá trình thực hiện đầu tư; Đối với doanh nghiệp Nhà nước, được tự quyết định đầu tư theo đúng pháp luật quy định, đảm bảo hiệu quả đầu tư. Gắn trách nhiệm của đại diện vốn chủ sở hữu tại doanh nghiệp Nhà nước với hiệu quả đâu tư; quy định cụ thê vê trách nhiệm trong việc dam bảo hiệu quả đầu tư; Công tác đấu thầu dự án được tô chức rộng rãi, công khai, giảm dan chỉ định thầu dự án. Đề nghị bổ sung cơ chế chính sách về các chế tài xử phạt vi phạm pháp luật đấu thầu; xử phạt theo số ngày gửi báo cáo chậm nhằm nâng cao trách nhiệm cáo cáo của CDT; quy định xử phạt cụ thê đối với người đề nghị, người thanh, quyết toán tăng, giảm giá trị không đúng thẩm quyền, không đúng quy định; Thống nhất hồ sơ quyết toán dự án hoàn thành gửi đi với hồ sơ quyết toán lưu tại đơn vị; thực hiện cơ chế công khai thông tin về tong mức dau tư, dự toán, kế hoạch giải ngân vốn dau tư, quyết toán dự án, công trình.
Luận án tiến sĩ kinh tế nghiên cứu về: “Phương hướng biện pháp hoàn thiện Quản lý nhà nước đối với xây dựng giao thông” của Bùi Minh Huấn tại trường Đại học kinh tế Quốc dân Hà Nội đã nghiên cứu về QLNN đối với công tác xây dựng trong ngành giao thông. Nghiên cứu đã phân tích va làm rõ nội dung, bản chất của QLNN đối với các dự án ĐTXD, trọng tâm là các dự án xây dựng giao thông xét theo quá trình DTXD và các chủ thể kinh doanh xây dựng giao thông. Thời gian nghiên cứu về các dự án ĐTXD từ 1962 đến năm 1995, đã trải qua nhiều thời gian do có sự thay đổi nhiều về chính sách theo hướng ngày càng phù hợp với điều kiện của nền kinh tế thị trường. Nghiên cứu đã chỉ ra những tôn tại, hạn chế trong hoạt động quản lý đầu tư, cách thức sử dụng các công cụ QLNN và phân chia chức năng trong bộ máy quản lý.