Luận văn: Giải pháp quản lý đất của tổ chức kinh tế tại TP. Thái Nguyên

Tổng hợp thực trạng quản lý đất đai tại TP. Thái Nguyên và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất cho các tổ chức kinh tế.

Chuyên ngành

Quản lý đất đai

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

88
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh quản lý đất đai TP

Thành phố Thái Nguyên, với vai trò là trung tâm kinh tế, chính trị và văn hóa của vùng trung du miền núi phía Bắc, đang đối mặt với những thách thức và cơ hội lớn trong công tác quản lý đất đai. Nguồn tài nguyên đất không chỉ là tư liệu sản xuất đặc biệt mà còn là nền tảng cho sự phát triển đô thị, công nghiệp và dịch vụ. Giai đoạn 2017 - 2019 đã chứng kiến những chuyển biến mạnh mẽ, tuy nhiên, công tác quản lý vẫn bộc lộ nhiều hạn chế, đòi hỏi một cách tiếp cận mới, toàn diện hơn. Việc nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất của các tổ chức kinh tế trên địa bàn trở thành nhiệm vụ cấp bách, nhằm khai thác tối đa tiềm năng, nguồn lực đất đai, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội bền vững. Theo nghiên cứu của Hà Thị Kim Anh (2020), việc đánh giá đúng thực trạng sẽ là cơ sở khoa học vững chắc để đề xuất các giải pháp khả thi, phù hợp với định hướng phát triển của thành phố. Quá trình này không chỉ dựa trên các quy định của Luật Đất đai 2013 mà còn cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng như Sở Tài nguyên và Môi trường Thái NguyênUBND thành phố Thái Nguyên.

1.1. Vai trò của tài nguyên đất với kinh tế xã hội Thái Nguyên

Đất đai là nguồn lực nội tại quan trọng nhất, quyết định đến tốc độ và cơ cấu phát triển kinh tế của thành phố Thái Nguyên. Quỹ đất được sử dụng để phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, thu hút đầu tư, tạo việc làm và tăng nguồn thu cho ngân sách. Đối với các tổ chức kinh tế, quyền sử dụng đất là tài sản có giá trị lớn, là cơ sở để triển khai các dự án sản xuất kinh doanh, xây dựng hạ tầng. Việc quản lý đất đai hiệu quả đảm bảo phân bổ nguồn lực đất hợp lý, tránh lãng phí, đồng thời ổn định môi trường đầu tư, tạo niềm tin cho doanh nghiệp. Một quy hoạch sử dụng đất Thái Nguyên khoa học và minh bạch sẽ là kim chỉ nam cho sự phát triển đồng bộ, hài hòa giữa các ngành kinh tế, giữa phát triển và bảo vệ môi trường, đảm bảo an sinh xã hội cho người dân địa phương.

1.2. Tổng quan cơ sở pháp lý và chính sách đất đai mới

Hệ thống pháp luật về đất đai của Việt Nam, với nòng cốt là Luật Đất đai 2013 và các nghị định hướng dẫn, đã tạo ra hành lang pháp lý tương đối hoàn chỉnh cho công tác quản lý nhà nước. Các quy định về giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (hay còn gọi là sổ đỏ, sổ hồng), thu hồi đất, và đền bù giải phóng mặt bằng đã được cụ thể hóa. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng tại Thái Nguyên cho thấy cần có những điều chỉnh và hướng dẫn chi tiết hơn để phù hợp với đặc thù địa phương. Các chính sách đất đai mới đang được xây dựng theo hướng tăng cường sự minh bạch, đơn giản hóa thủ tục hành chính và ứng dụng công nghệ số, hứa hẹn sẽ tháo gỡ nhiều nút thắt, nâng cao hiệu quả quản lý trong thời gian tới.

II. Top 5 thách thức quản lý đất đai TP

Công tác quản lý đất đai tại TP. Thái Nguyên dù đã đạt được nhiều kết quả tích cực nhưng vẫn còn tồn tại không ít khó khăn, thách thức. Những bất cập này không chỉ gây lãng phí tài nguyên, thất thu ngân sách mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường đầu tư và an sinh xã hội. Báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường Thái Nguyên và kết quả nghiên cứu thực tiễn cho thấy, các vi phạm vẫn diễn ra ở nhiều mức độ, từ việc sử dụng đất không đúng mục đích, chậm đưa đất vào sử dụng, đến các vụ việc tranh chấp đất đai phức tạp. Nghiên cứu giai đoạn 2017-2019 của Hà Thị Kim Anh chỉ ra rằng, có 23.377 tổ chức trên cả nước sử dụng đất không đúng mục đích, trong đó tình trạng này cũng xảy ra tại Thái Nguyên. Việc xác định và xử lý dứt điểm các vi phạm đòi hỏi sự quyết liệt của chính quyền và sự hoàn thiện của cơ chế giám sát, đặc biệt là công tác thanh tra đất đai.

2.1. Thực trạng sử dụng đất sai mục đích và lấn chiếm đất công

Một trong những tồn tại nhức nhối là tình trạng sử dụng đất sai mục đích được giao, được thuê. Nhiều tổ chức kinh tế sau khi được giao đất, cho thuê đất đã không triển khai dự án, để đất hoang hóa, hoặc tự ý chuyển đổi mục đích sang kinh doanh dịch vụ, cho thuê lại trái phép. Tình trạng lấn chiếm đất công, đất nông nghiệp để xây dựng nhà ở, nhà xưởng trái phép vẫn còn xảy ra ở một số khu vực ven đô. Những vi phạm luật đất đai này gây khó khăn cho công tác quy hoạch, phá vỡ cấu trúc không gian đô thị và làm suy giảm hiệu quả sử dụng đất. Nguyên nhân chính bắt nguồn từ sự buông lỏng quản lý của chính quyền cơ sở và ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận tổ chức, cá nhân chưa cao.

2.2. Vướng mắc trong cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức kinh tế trên địa bàn vẫn còn chậm. Tính đến năm 2017, tỷ lệ cấp giấy chứng nhận trên cả nước mới đạt khoảng 35,99% số tổ chức cần cấp. Tại Thái Nguyên, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc hoàn thiện hồ sơ do vướng mắc về nguồn gốc đất, sự không đồng nhất giữa hiện trạng sử dụng và giấy tờ pháp lý, hoặc do quy trình thủ tục còn phức tạp. Việc chậm được cấp sổ đỏ khiến các tổ chức không thể thực hiện đầy đủ các quyền của người sử dụng đất như thế chấp vay vốn ngân hàng, góp vốn kinh doanh, làm giảm khả năng huy động nguồn lực cho sản xuất.

2.3. Bất cập trong thu hồi đất và đền bù giải phóng mặt bằng

Công tác thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội thường xuyên đối mặt với khiếu nại, khiếu kiện kéo dài. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ chính sách đền bù giải phóng mặt bằng chưa thực sự thỏa đáng, giá đất đền bù còn chênh lệch lớn so với giá thị trường. Quy trình xác định giá đất, lập phương án bồi thường và tái định cư đôi khi thiếu minh bạch, chưa có sự đồng thuận cao từ người dân bị ảnh hưởng. Những bất cập này không chỉ làm chậm tiến độ các dự án trọng điểm mà còn tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định an ninh, trật tự xã hội.

III. Phương pháp tối ưu quy hoạch sử dụng đất Thái Nguyên 2024

Để giải quyết các tồn tại, việc nâng cao chất lượng công tác quy hoạch là giải pháp nền tảng và mang tính chiến lược. Một bản quy hoạch sử dụng đất Thái Nguyên chất lượng cao phải đảm bảo tính khoa học, tầm nhìn dài hạn và khả năng dự báo chính xác nhu cầu phát triển. Quy hoạch cần được xây dựng dựa trên sự tích hợp đa ngành, cân đối hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường, an ninh quốc phòng và ổn định xã hội. Kế hoạch sử dụng đất hàng năm phải bám sát quy hoạch đã được phê duyệt, đảm bảo tính khả thi và phân bổ nguồn lực đất đai một cách hiệu quả nhất. Việc này đòi hỏi sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học và đặc biệt là sự tham vấn ý kiến rộng rãi từ cộng đồng dân cư và doanh nghiệp. Chỉ khi quy hoạch đi trước một bước và được tuân thủ nghiêm ngặt, công tác quản lý đất đai mới thực sự đi vào nề nếp và phát huy hiệu quả.

3.1. Rà soát điều chỉnh kế hoạch sử dụng đất cấp thành phố

UBND thành phố Thái Nguyên cần định kỳ tổ chức rà soát, đánh giá toàn diện việc thực hiện kế hoạch sử dụng đất hàng năm. Quá trình này giúp phát hiện kịp thời những chỉ tiêu quy hoạch không còn phù hợp với thực tế phát triển, các dự án treo, dự án chậm triển khai để có phương án điều chỉnh hoặc thu hồi. Việc điều chỉnh quy hoạch phải được thực hiện theo quy trình chặt chẽ, công khai, minh bạch, tránh tình trạng điều chỉnh cục bộ, tùy tiện vì lợi ích nhóm. Đồng thời, cần nâng cao năng lực dự báo, xác định chính xác nhu cầu sử dụng đất cho từng ngành, lĩnh vực, làm cơ sở cho việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cho các giai đoạn tiếp theo một cách bền vững.

3.2. Công khai bản đồ quy hoạch Thái Nguyên và thông tin đất đai

Minh bạch hóa thông tin là chìa khóa để ngăn chặn tiêu cực và tăng cường giám sát của xã hội. Toàn bộ bản đồ quy hoạch Thái Nguyên, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt cần được công bố rộng rãi trên các cổng thông tin điện tử của tỉnh và thành phố, tại trụ sở UBND các cấp và qua các phương tiện truyền thông. Người dân và doanh nghiệp phải có khả năng tiếp cận thông tin quy hoạch một cách dễ dàng, nhanh chóng để tra cứu, tìm hiểu và thực hiện quyền giám sát. Việc công khai không chỉ giúp hạn chế tình trạng mua bán, đầu cơ đất đai dựa trên thông tin sai lệch mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư khi nghiên cứu, quyết định đầu tư vào thành phố.

3.3. Tăng cường thanh tra đất đai và xử lý dứt điểm vi phạm

Cần xây dựng kế hoạch thanh tra đất đai định kỳ và đột xuất, tập trung vào các tổ chức kinh tế được giao, cho thuê diện tích đất lớn, các dự án có nguy cơ chậm tiến độ hoặc có dấu hiệu vi phạm luật đất đai. Hoạt động thanh tra phải được thực hiện một cách độc lập, khách quan. Mọi hành vi sử dụng đất sai mục đích, cho thuê lại trái phép, lấn chiếm đất công phải bị xử lý kiên quyết, dứt điểm theo quy định của pháp luật, bao gồm cả các biện pháp hành chính và thu hồi đất. Việc xử lý nghiêm minh không chỉ có tác dụng răn đe mà còn lập lại trật tự, kỷ cương trong quản lý, sử dụng đất đai trên toàn địa bàn.

IV. Hướng dẫn hiện đại hóa quản lý đất đai TP

Bên cạnh các giải pháp về quy hoạch và chính sách, hiện đại hóa quản lý đất đai thông qua ứng dụng công nghệ thông tin là xu thế tất yếu và là công cụ hữu hiệu để nâng cao hiệu quả, tính minh bạch. Việc chuyển đổi từ phương thức quản lý thủ công, dựa trên giấy tờ sang quản lý trên nền tảng số sẽ giúp khắc phục tình trạng thông tin phân tán, thiếu nhất quán, chồng chéo. Một hệ thống thông tin đất đai hiện đại sẽ cung cấp dữ liệu chính xác, kịp thời cho công tác chỉ đạo, điều hành của chính quyền, đồng thời phục vụ tốt hơn nhu cầu của người dân và doanh nghiệp. Đây là nền tảng cốt lõi để triển khai thành công chính quyền điện tử, hướng tới chính quyền số trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường. Quá trình này cần một lộ trình cụ thể, nguồn lực đầu tư xứng đáng và quyết tâm chính trị cao từ lãnh đạo thành phố và các sở, ban, ngành liên quan.

4.1. Xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai tập trung liên thông

Trọng tâm của quá trình hiện đại hóa là phải xây dựng được một cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia tập trung, thống nhất và được cập nhật thường xuyên. Tại Thái Nguyên, cần đẩy nhanh tiến độ số hóa hồ sơ địa chính, bản đồ, thông tin quy hoạch, giá đất và tình trạng pháp lý của từng thửa đất. Hệ thống này phải được thiết kế để có khả năng liên thông, chia sẻ dữ liệu với các ngành khác như Thuế, Xây dựng, Kế hoạch và Đầu tư. Dữ liệu tập trung sẽ giúp loại bỏ các thủ tục xác minh thông tin không cần thiết, rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ và đảm bảo tính nhất quán của thông tin trên toàn hệ thống.

4.2. Đẩy mạnh cải cách hành chính lĩnh vực đất đai trực tuyến

Trên nền tảng cơ sở dữ liệu đã được xây dựng, cần đẩy mạnh cải cách hành chính lĩnh vực đất đai. Các thủ tục như đăng ký biến động, cấp lại, cấp đổi sổ đỏ, sổ hồng, tra cứu thông tin quy hoạch cần được cung cấp dưới dạng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4. Điều này cho phép người dân và doanh nghiệp thực hiện các giao dịch ở bất cứ đâu, giảm thời gian đi lại và chi phí không chính thức. UBND thành phố Thái Nguyên và Văn phòng Đăng ký đất đai cần đầu tư vào hạ tầng công nghệ, đào tạo nhân lực và tuyên truyền rộng rãi để người dân quen với việc sử dụng các dịch vụ công trực tuyến, góp phần xây dựng một nền hành chính phục vụ, hiện đại và hiệu quả.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

04/10/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý đất đai đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng đất của các tổ chức kinh tế tại thành phố thái nguyên tỉnh thái

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận và tầm quan trọng của công tác quản lý đất của tổ chức 1. Cơ sở khoa học 1. Khái quát về đất đai Đất đai là tài nguyên không thể tái tạo, là tài sản vô cùng quý giá của mỗi quốc gia với vai trò, ý nghĩa đặc trưng: đất đai là nơi ở, nơi xây dựng cơ sở hạ tầng của con người và là tư liệu sản xuất.

Về mặt thổ nhưỡng, đất là vật thể thiên nhiên có cấu tạo độc lập, được hình thành do kết quả tác động của nhiều yếu tố: khí hậu, địa hình, đá mẹ, sinh vật và thời gian. Giá trị tài nguyên đất được đo bằng số lượng diện tích và độ phì. Winkler (1968) xem đất như một vật thể sống vì trong nó có chứa nhiều sinh vật: vi khuẩn, nấm, tảo, thực vật, động vật,… do đó đất cũng tuân thủ những quy luật sống, đó là: phát sinh, phát triển, thoái hóa và già cỗi. Tùy thuộc vào thái độ của con người đối với đất mà đất có thể trở nên phì nhiêu hơn, cho năng suất cây trồng cao hơn hoặc ngược lại.

Cũng cách nhìn nhận như vậy, các nhà sinh thái học còn cho rằng đất là một “vật mang” (carrier) của tất cả các hệ sinh thái tồn tại trên trái đất. Như vậy, đất luôn luôn mang trên mình nó các hệ sinh thái và các hệ sinh thái này chỉ bền vững khi “vật mang” bền vững. Con người tác động vào đất cũng chính là tác động vào các hệ sinh thái mà đất “mang” trên mình nó. Một vật mang, lại có tính chất đặc thù, độc đáo của độ phì nhiêu nên đất là cơ sở cần thiết, vững chắc, giúp cho các hệ sinh thái tồn tại và phát triển (Vũ Ngọc Tuyên, 1994).

Như vậy, “Đất là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các đặc tính sinh quyển ngay trên hay dưới bề mặt đó gồm có: Yếu tố khí hậu gần bề mặt trái đất; các dạng thổ nhưỡng và địa hình, thủy văn bề mặt (gồm: 5 hồ, sông, suối và đầm lầy nước cạn); lớp trầm tích và kho dự trữ nước ngầm sát bề mặt trái đất; tập đoàn thực vật và động vật; trạng thái định cư của con người và những thành quả vật chất do các hoạt động của con người trong quá khứ và hiện tại tạo ra” (Vũ Ngọc Tuyên, 1994). Điều 53 Chương III Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Việc quản lý, sử dụng nguồn tài nguyên đất đai đúng mục đích, hợp lý, có hiệu quả, bảo vệ cảnh quan và môi trường sinh thái sẽ phát huy tối đa nguồn lực của đất đai, góp phần thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Theo Luật Đất đai năm 2013, một số khái niệm liên quan đến các tổ chức quản lý, sử dụng đất được hiểu như sau: Nhà nước giao đất là việc Nhà nước ban hành quyết định giao đất để trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất.

Nhà nước cho thuê đất là việc Nhà nước quyết định trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất thông qua hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất. Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người đang sử dụng đất ổn định mà không có nguồn gốc được Nhà nước giao đất, cho thuê đất thông qua việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất lần đầu đối với thửa đất xác định. Chuyển quyền sử dụng đất là việc chuyển giao quyền sử dụng đất từ người này sang người khác thông qua các hình thức chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất và góp vốn bằng quyền sử dụng đất. 6 Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật này.

Khái quát về quỹ đất của các tổ chức Quỹ đất đang quản lý, sử dụng của các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất bao gồm quỹ đất thuộc cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức kinh tế - xã hội, tổ chức sự nghiệp công, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, tổ chức nước ngoài đầu tư vào Việt Nam Theo Thông tư số 28/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất, quỹ đất của các tổ chức trên địa bàn toàn quốc được thống kê phân theo các loại: giao đất không thu tiền sử dụng đất; giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất. Trong đó các loại hình tổ chức sử dụng đất được phân loại thành: Tổ chức sử dụng đất, quản lý đất (còn gọi là đối tượng sử dụng, quản lý đất) là tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để sử dụng hoặc được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất đối với đất đang sử dụng, được Nhà nước giao đất để quản lý, quy định trong Luật này bao gồm: - Các tổ chức trong nước bao gồm cơ quan, đơn vị của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị quốc phòng, an ninh, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế gồm các doanh nghiệp và hợp tác xã, tổ chức sự nghiệp công, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập và các tổ chức khác theo quy định của Chính phủ (sau đây gọi chung là tổ chức) được Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất; tổ chức kinh tế nhận chuyển quyền sử dụng đất; 7 - Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao gồm cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện khác của nước ngoài có chức năng ngoại giao được Chính phủ Việt Nam thừa nhận; cơ quan đại diện của tổ chức thuộc Liên hợp quốc, cơ quan hoặc tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại diện của tổ chức liên chính phủ được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất; - Tổ chức, cá nhân có vốn đầu tư nước ngoài gồm doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp Việt Nam mà nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại theo quy định của pháp luật về đầu tư được cho thuê đất. - Tổ chức sự nghiệp công lập là tổ chức do các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập, có chức năng thực hiện các hoạt động dịch vụ công theo quy định của pháp luật. - Tổ chức khác là các tổ chức trong nước sử dụng đất bao gồm: Tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, cơ sở tôn giáo và các tổ chức khác không phải là cơ quan, đơn vị của Nhà nước, không phải là tổ chức kinh tế.

- Tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài là nhà đầu tư nước ngoài hoặc tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao được Nhà nước cho thuê đất; bao gồm doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao. Khái niệm tổ chức kinh tế Theo Điều 3, Luật Đầu tư năm 2014, tổ chức kinh tế là tổ chức được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và các tổ chức khác thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh (Luật Đầu tư, 2014). Tổ chức kinh tế bao gồm doanh nghiệp, hợp tác xã và tổ chức kinh tế khác theo quy định của pháp luật về dân sự, trừ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông (Luật Đầu tư, 2014).

Nhà đầu tư 8 được thành lập tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật. Trước khi thành lập tổ chức kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài phải có dự án đầu tư, thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo quy định tại Điều 37 của Luật Đầu tư 2014 và phải đáp ứng các điều kiện sau đây: - Tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ quy định tại khoản 3 Điều 22 Luật Đầu tư 2014; - Hình thức đầu tư, phạm vi hoạt động, đối tác Việt Nam tham gia thực hiện hoạt động đầu tư và điều kiện khác theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự án đầu tư thông qua tổ chức kinh tế được thành lập theo quy định tại khoản 1 Điều 22, trừ trường hợp đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp hoặc đầu tư theo hợp đồng. Nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu vốn điều lệ không hạn chế trong tổ chức kinh tế, trừ các trường hợp: - Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại công ty niêm yết, công ty đại chúng, tổ chức kinh doanh chứng khoán và các quỹ đầu tư chứng khoán theo quy định của pháp luật về chứng khoán; - Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa hoặc chuyển đổi sở hữu theo hình thức khác thực hiện theo quy định của pháp luật về cổ phần hóa và chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước; - Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài không thuộc quy định như trên thì thực hiện theo quy định khác của pháp luật có liên quan và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Cơ sở pháp lý của công tác giao đất, cho thuê đất cho tổ chức kinh tế 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ