phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn gồm có 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và pháp lý của quản lý nhà nước về đào tạo nghề đối với lao động nông thôn. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo nghề đối với lao động nông thôn trên địa bàn huyện Phú Giáo. Chƣơng 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về đào tạo nghề đối với lao động nông thôn trên địa bàn huyện Phú Giáo. 9 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1.
Khái quát quản lý nhà nƣớc về đào tạo nghề đối với lao động nông thôn 1. Nghề và đào tạo nghề 1. Nghề Từ điển Tiếng Việt (1998) của Nhà xuất bản văn hóa thông tin định nghĩa “Nghề: Công việc chuyên làm theo sự phân công của xã hội” [55, tr. Theo giáo trình Kinh tế Lao động của trường Đại học Kinh tế quốc dân “Nghề là một dạng xác định của hoạt động trong hệ thống phân công lao động của xã hội, là toàn bộ kiến thức (hiểu biết) và kỹ năng mà một người lao động cần có để thực hiện các hoạt động xã hội nhất định trong một lĩnh vực lao động nhất định” [8, tr.
Nghề cũng có thể được quan niệm là “tập hợp lao động do sự phân công lao động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được. Nghề mang tính tương đối, nó phát sinh, phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất và nhu cầu xã hội” [13, tr. Theo sách Kỹ năng của cán bộ cấp xã trong đào tạo nghề cho LĐNT của Nhà xuất bản lao động – xă hội (2013) thì “Nghề được hiểu là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội” [53, tr. 10 Qua một số quan niệm về thuật ngữ “nghề” tác giả nhận thấy có nhiều cách hiểu khác nhau về “nghề”, song vẫn có một số điểm thống nhất tương đối như sau: - Một là, nghề là hoạt động lao động của con người mang tính thường xuyên, lặp đi lặp lại, là phương tiện để sinh tồn, phát triển và thoả mãn những nhu cầu nhất định của xã hội và cá nhân.
- Hai là, nghề là sự phân công lao động của xã hội nhằm đáp ứng các nhu cầu của xã hội. - Ba là, nghề mang tính tương đối. - Bốn là, nghề là những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, có giá trị trao đổi, đòi hỏi quá trình đào tạo chuyên biệt và tích lũy kinh nghiệm xã hội. Đào tạo nghề Hiện nay, ở Việt Nam và trên thế giới đang tồn tại nhiều định nghĩa về đào tạo nghề, sau đây là một số định nghĩa mà các nhà nghiên cứu đã nêu ra: Tổ chức Lao động Quốc tế định nghĩa: “Đào tạo nghề cung cấp cho người học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan đến công việc nghề nghiệp được giao” [49, tr.
Tại Điều 5, Luật Dạy nghề (2006), dạy nghề được giải thích là “hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm, hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học”. Tại Điều 3, Luật Giáo dục nghề nghiệp (2014), đào tạo nghề nghiệp được giải thích là “hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp”. 11 Đào tạo nghề cũng như đào tạo trên các lĩnh vực khác, đều có quan hệ gắn bó hữu cơ với quá trình phát triển kinh tế xã hội. Đào tạo nghề dạy cho người học nghề những hiểu biết về chuyên môn kỹ thuật, những kỹ năng, kỹ xảo, cách thức tổ chức và thái độ cần thiết trong hoạt động lao động của nghề để người lao động có thể làm việc một cách chất lượng và hiệu quả.
Đào tạo nghề nhằm đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo. Đào tạo nghề phải được tiến hành một cách khoa học, hệ thống; việc đào tạo nghề không chỉ dừng lại ở đào tạo về kiến thức, kỹ năng kỹ xảo mà còn đào tạo thái độ nghề nghiệp của người lao động. Với nội hàm tương tự nhau đối với cách hiểu từ “dạy nghề” trong Luật Dạy nghề và từ “đào tạo nghề” trong Luật Giáo dục nghề nghiệp và các cách hiểu khác; đồng thời để đảm bảo “mạch” của luận văn, tác giả dùng khái niệm “đào tạo nghề” như sau: “Đào tạo nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp”. Nghề là kết quả của sự phân công lao động xã hội, đáp ứng nhu cầu xã hội và cá nhân.
Trong xã hội có rất nhiều nghề với các chuyên môn khác nhau. Xã hội phát triển, nhu cầu cá nhân thay đổi cùng với sự phát triển khoa học công nghệ thì ngành nghề cũng thay đổi theo, nghề mới sinh ra dẫn đến phát sinh thêm nhiều nghề mới, nghề cũ mất đi hoặc thay đổi về nội dung cũng như phương thức sản xuất. Vì vậy việc phân chia các nhóm nghề hiện nay chỉ mang tính chất tương đối và có nhiều cách phân loại khác nhau phụ thuộc vào tiêu chuẩn phân loại khác nhau của mỗi quốc gia. Tiêu chuẩn quốc tế về phân loại nghề nghiệp phiên bản năm 2008 (ISCO-08) do Tổ chức Lao động quốc tế điều hành, ISCO được xếp hành một 12 hệ thống với cấu trúc 4 bậc bao gồm tất cả các nghề trên thế giới thành 436 nhóm đơn vị.
Những nhóm này được tổng hợp thành 130 nhóm nhỏ, 43 nhóm lớn phụ và 10 nhóm chính dựa trên sự tương đồng về mức độ kỹ năng và kỹ năng chuyên môn cần thiết của công việc. Hiện nay các quốc gia trên thế giới đa số dựa trên ISCO để xây dựng tiêu chuẩn phân loại nghề phù hợp với các nghề của quốc gia họ. Tại Việt Nam, hiện nay chưa có hệ thống phân loại nghề quy mô và toàn diện đối với tất cả các nghề nói chung, chủ yếu dựa vào ba tiêu chí phân loại là theo hình thức lao động, theo đào tạo và theo yêu cầu của nghề đối với lao động. Phân loại theo đào tạo thì nghề được chia thành 02 loại là nghề được đào tạo và nghề không được đào tạo.
Nghề được đào tạo là nghề mà nếu muốn nắm vững nó, lao động phải trải qua khoảng thời gian nhất định để đào tạo, một cách hệ thống, khoa học, dưới nhiều hình thức và được nhận bằng, chứng chỉ, hiện nay nước ta đã có danh mục nghề được đào tạo. Nghề không qua đào tạo rất khó thống kê do một phần được hình thành và phát triển trong các dòng họ, gia đình qua hình thức kèm cặp, truyền nghề. Theo Quyết định số 38/2009/QĐ-TTg ngày 09/3/2009 của Thủ tướng Chính phủ, nghề được đào tạo được chia theo trình độ đào tạo có các lĩnh vực, nhóm nghề và nghề khác nhau trong xã hội. Riêng đào tạo nghề có khoảng 22 lĩnh vực với 56 nhóm nghề được đào tạo ở trình độ trung cấp và cao đẳng nghề, 21 lĩnh vực với 50 nhóm nghề ở trình độ sơ cấp và đào tạo nghề dưới 3 tháng.
Theo Quyết định số 01/2017/QĐ-TTg ngày 17/01/2017 của Thủ tướng Chính phủ (có hiệu lực từ ngày 05/3/2017, thay thế Quyết định số 38/2009/QĐ-TTg ngày 09/3/2009 của Thủ tướng Chính phủ), giáo dục, đào tạo có 27 lĩnh vực với 107 nhóm chương trình, nhóm ngành, nhóm nghề (riêng nhóm ngành, nhóm nghề là 101), không chia các nhóm ngành, nhóm 13 nghề riêng đối với từng bậc đào tạo. Thông tư số 04/2017/TT-BLĐTBXH ngày 02/3/2017 của Bộ LĐTBXH (có hiệu lực từ ngày 15/4/2017) phân chia nhóm ngành, nghề trình độ trung cấp và trình độ cao đẳng thành những ngành, nghề đào tạo cụ thể (822 ngành, nghề trung cấp, 558 ngành, nghề cao đẳng). Một cách phân loại khác đối với nghề được đào tạo dựa trên các lĩnh vực chủ yếu trong cơ cấu nền kinh tế nước ta: công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ, trong đó dựa trên sự gắn kết, mối tương quan về yêu cầu công việc, các nghề công nghiệp và dịch vụ được nhóm lại với nhau gọi là nghề phi nông nghiệp. Đào tạo nghề đối với lao động nông thôn 1.
Khái niệm về lao động nông thôn Theo Các – Mác, lao động là một quá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung gian điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên. Trong quá trình tác động vào tự nhiên, con người phải sử dụng công cụ, thiết bị tác động nhằm biến đổi tự nhiên thành những vật thể đáp ứng cho nhu cầu của mình. Trong mọi thời đại, mọi trình độ sản xuất có hiện đại đến đâu thì lao động là một trong những yếu tố hàng đầu không thể thiếu của loài người [54, tr53-54]. Nguồn lao động là toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động.
Lực lượng lao động là bộ phận của nguồn lao động bao gồm những người trong độ tuổi lao động, đang có việc làm trong nền kinh tế quốc dân và những người thất nghiệp nhưng có nhu cầu tìm việc làm. “Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một 14 số nguyên liệu cho công nghiệp. Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản” [54, tr. Theo Từ điển tiếng Việt phổ thông (2002) của nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh thì “Nông thôn là danh từ chỉ khu vực dân cư tập trung chủ yếu làm nghề nông” [54, tr.