CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DÂN SỐ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Dân số * Dân số “Dân số là tập hợp người sinh sống trong một quốc gia, khu vực, vùng địa lý kinh tế hoặc một đơn vị hành chính” [40,tr2]. Dân số luôn luôn biến động theo thời gian và không gian.
Những biến động về dân số c ó ảnh hưởng đến cuộc sống của mỗi cá nhân, gia đình và toàn xã hội. Nhằm đảm bảo sự kiểm soát nhất định đối với vấn đề dân số của một quốc gia thì quốc gia thường có những cuộc điều tra dân số để làm cơ sở đánh giá, nhận định và đưa ra những chính sách đối với vấn đề dân số của quốc gia mình. * Quy mô dân số “ Quy mô dân số là số người sống trong một quốc gia, khu vực, vùng địa lý kinh tế hoặc một đơn vị hành chính tại thời điểm nhất định” [40,tr2]. Quy mô dân số biến động theo thời gian và không gian, mức tăng giảm tùy thuộc vào các biến số: sinh, chết, di dân và các biến số này được xác định qua tổng điều tra dân số, thống kê dân số, dự báo dân số.
* Cơ cấu dân số “Cơ cấu dân số là tổng số dân được phân loại theo giới tính, độ tuổi, dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân và các đặc trưng khác”. [40,tr2] * Phân bố dân số “Phân bố dân số là sự sắp xếp dân số tự phát hoặc tự giác trên một lãnh thổ nhất định, phù hợp với điều kiện sống và yêu cầu xã hội”. [40,tr2] 6 Phân bố dân số là sự phân công chia tổng số dân theo địa bàn hành chính, địa lý, kinh tế xã hội, văn hóa. * Chất lượng dân số “ Chất lượng dân số là sự phản ánh các đặc trưng về thể chất, trí tuệ và tinh thần của toàn bộ dân số” [40,tr2].
Quản lý nhà nước về dân số * Quản lý nhà nước (QLNN) Trước tiên cần hiểu Quản lý là gì? Quản lý là sự tác động có tổ chức, hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường. Có quan điểm cho rằng, Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan. Quản lý nhà nước là sự chỉ huy, điều hành xã hội của các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp) để thực thi quyền lực Nhà nước, thông qua các văn bản quy phạm pháp luật. Nhưng cũng có thể hiểu, Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực của nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người.
Vai trò chung của quản lý nhà nước: - Định hướng phát triển của tổ chức trên cơ sở xác định mục tiêu quản lý và hướng đối tượng quản lý vào việc thực hiện mục tiêu quản lý. Thống nhất về ý chí và hành động của mọi đối tượng quản lý nhằm thực hiện thực hiện được mục tiêu và thực hiện có hiệu quả mục tiêu quản lý. - Tổ chức, phối hợp, dẫn dắt đối tượng quản lý vào việc thực hiện mục tiêu quản lý hoặc hướng dẫn hoạt động của các đối tượng quản lý vào việc thực hiện mục tiêu quản lý để giảm độ bất định (Kế hoạch hoạt động). 7 - Tạo động lực cho các đối tượng quản lý bằng cách kích thích, đánh giá, động viện, khen thưởng đối tượng quản lý hoàn thành công việc có hiệu quả, uốn nắn những lệch lạc, sai sót của đối tượng quản lý nhằm giảm bớt những thất thoát, sai lệch trong quá trình quản lý (Chính sách khuyến khích).
- Tạo môi trường và điều kiện cho sự phát triển của cá nhân, đối tượng quản lý và phát triển chung của tổ chức quản lý, bảo đảm phát triển ổn định, bền vững và mang lại hiệu quả cao. * Quản lý nhà nước về dân số - Khái niệm quản lý nhà nước về dân số Quản lý nhà nước về DS-KHHGD là quá trình tác động có ý thức, có tổ chức của nhà nước đến các quá trình và yếu tố dân số nhằm làm thay đổi trạng thái dân số để đạt được mục tiêu đã đề ra. Chủ thể quản lý của nhà nước về DS-KHHGD là nhà nước với hệ thống các cơ quan của Nhà nước được phân chia thành các cấp và bao gồm cả 3 khu vực là lập pháp, hành pháp và tư pháp. Trong đó, quản lý hành chính (hành pháp) về DS-KHHGD là cực kỳ quan trọng.
Trong lĩnh vực DSKHHGD, Nhà nước chỉ tác động vào nhận thức và hành vi về DS-KHHGD hoặc liên quan đến DS-KHHGD. Quá trình quản lý đó đi từ việc nghiên cứu hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật, các chiến lược, chương trình, kế hoạch, xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy, hình thành cơ chế quản lý điều hành và tác động làm cho các chủ trương, chính sách đến tận người dân và biến nó thành hiện thực trong cuộc sống. QLNN về dân số đòi hỏi phải nắm được một cách đầy đủ, kịp thời và chính xác tình hình dân số bao gồm quy mô, cơ cấu, phân bổ và chất lượng dân số. Chủ thể quản lý nhà nước về dân số là nhà nước với hệ thống các cơ quan của Nhà nước được phân chia thành các cấp và bao gồm cả 3 lĩnh vực 8 là lập pháp, hành pháp, tư pháp, trong đó quản lý hành chính ( hành pháp) về dân số là cực kỳ quan trọng.
Đối tượng QLNN về dân số là các quá trình dân số liên quan đến quy mô, cơ cấu, chất lượng và phân bố dân số. Khách thể của QLNN về dân số là các tổ chức, cá nhân. Mục tiêu QLNN về dân số xét một cách chung nhất là trạng thái thay đổi về các yếu tố quy mô, cơ cấu, phân bổ dân số, chất lượng dân số hoặc các quá trình sinh, chết, di dân phù hợp mà nhà nước mong muốn đạt được để tạo điều kiện nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, phát triển bền vững đất nước về kinh tế, xã hội và môi trường. QLNN về dân số cũng như các lĩnh vực khác được thực hiện thông qua việc ban hành và thực thi các đường lối, chính sách và pháp luật.
Đồng thời, trong những điều kiện cụ thể, nhà nước đảm nhiệm việc tổ chức, cung cấp các dịch vụ về DS-KHHGĐ như là các dịch vụ công, để quá trình thay đổi nhận thức và hành vi của công dân diễn ra đúng hướng và nhanh chóng hơn. Việc thực hiện QLNN về dân số bao giờ cũng diễn ra trong các điều kiện, bối cảnh cụ thể và luôn được tính toán cho phù hợp với những điều kiện và bối cảnh đó, đảm bảo đạt được mục tiêu cuối cùng đồng thời hạn chế tối đa những tác động tiêu cực đến sự ổn định xã hội trước mắt và lâu dài. - Bản chất và đặc điểm của quản lý nhà nước về dân số QLNN về dân số là hoạt động chủ động của nhà nước được tiến hành trước hết dựa vào quyền lực của nhà nước. QLNN về dân số nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng là nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi người dân, của từng gia đình và của toàn xã hội.
Đảm bảo tình trạng hài hòa về các yếu tố quy mô, cơ cấu, phân bố và chất lượng dân số, phù hợp với chiến lược phát triển KT-XH đưa nước ta thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, tiến tới một xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. 9 Quản lý nhà nước về dân số phải dựa vào nhân dân, thông qua việc tác động làm chuyển đổi nhận thức và hành vi của từng người dân và toàn xã hội, đi đến tự nguyện thực hiện chính sách, pháp luật của nhà nước vì lợi ích của chính mình và vì sự phát triển của đất nước. QLNN về dân số là một khoa học vì có đối tượng nghiên cứu riêng đó là các quan hệ quản lý. Các quan hệ trong quản lý nhà nước về dân số chính là các hình thức của quan hệ xã hội và quan hệ kinh tế, thể hiện mối quan hệ giữa con người với con người trong quá trình tiến hành các hoạt động dân số, bao gồm quan hệ giữa hệ thống hoạt động cấp trên và cấp dưới, quan hệ giữa cơ quan thường trực dân số với các cơ quan chính quyền cùng cấp, quan hệ giữa người quán lý, thực hiện chương trình với đối tượng của chương trình.
Tính khoa học trong QLNN về dân số đồi hỏi phải nghiên cứu đồng bộ, toàn diện về các khía cạnh, không chỉ giới hạn về mặt kinh tế - kỹ thuật mà còn phải suy tính đến các mặt xã hội và tâm lý của quá trình đó. Tính khoa học của QLNN về dân số còn thể hiện ở chỗ nó dựa vào phương pháp đo lường, định lượng hiện đại, dựa vào các nghiên cứu, phân tích, đánh giá khách quan các đối tượng quản lý. QLNN về dân số còn là một nghệ thuật, bởi lẽ kết quả và hiệu quả của quản lý còn phụ thuộc vào các yếu tố tài năng, nhân cách, hình thức tiếp cận của người lãnh, quản lý cũng như cơ quan dân số các cấp. Nghệ thuật QLNN về dân số bao gồm nghệ thuật sử dụng các công cụ và phương pháp quản lý, nghệ thuật tác động vào tư tưởng, tình cảm con người, nghệ thuật dùng người.
Nội dung quản lý nhà nước về dân số Tổ chức bộ máy làm việc công tác dân số các cấp là một bộ phận của hệ thống y tế, chịu trách nhiệm tổ chức và thực hiện công tác dân số - KHHGĐ theo nhiệm vụ được phân công. Ở cấp trung ương là Tổng cục DS - KHHGĐ thuộc Bộ y tế. Cấp trung ương là nơi vừa xây dựng vả chỉ đạo tầm 10 vĩ mô. Dưới cấp trung ương là cấp tỉnh, được gọi là Chi cục DS -KHHGĐ trực thuộc Sở Y tế quản lý.
Sau cấp tỉnh là cấp huyện được gọi là Trung tâm DS- KHHGĐ các huyện thị/ thành phố trực thuộc tỉnh. Nội dung quản lý nhà nước về dân số được thể hiện rất rõ tại Điều 33, Pháp lệnh Dân số do Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua ban hành và sửa đổi năm 2013 quy định nội dung quản lý nhà nước về dân số bao gồm: 1.