CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẠI LÝ TẠI DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ 1. Tổng quan về Bảo hiểm phi nhân thọ 1. Khái niệm và đặc điểm của Bảo hiểm phi nhân thọ 1.1 Khái niệm Bảo hiểm phi nhân thọ Bảo hiểm phi nhân thọ là loại hình bảo hiểm liên quan đến các rủi ro về tài sản, trách nhiệm, tính mạng, tình trạng sức khỏe của con người. Thời hạn bảo hiểm trong bảo hiểm phi nhân thọ thường là một năm.
Đặc điểm của Bảo hiểm phi nhân thọ : Bảo hiểm phi nhân thọ có những đặc trưng cơ bản sau: - Thứ nhất: Hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ là một hợp đồng ngắn hạn, thời hạn bảo hiểm thường là một năm hoặc ngắn hơn. -Thứ hai: Hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ chỉ bồi thường và chi trả tiền bảo hiểm khi có sự kiện được bảo hiểm phù hợp với nội dung hợp đồng đã ký kết xảy ra. -Thứ ba: Phí bảo hiểm phi nhân thọ được tính cho thời hạn bảo hiểm, thông thường phí tính cho từng năm bảo hiểm hoặc từng chuyến. Phí bảo hiểm thường phụ thuộc vào mức độ rủi ro được bảo hiểm bao gồm các yếu tố sau: + Số tiền bảo hiểm + Thời hạn bảo hiểm + Tuổi của người được bảo hiểm.
+ Số năm đã sử dụng tài sản. + Phạm vi bảo hiểm. -Thứ tư: Trừ các nghiệp vụ bảo hiểm con người phi nhân thọ, còn các nghiệp vụ khác như tài sản, trách nhiệm dân sự giữa Người bảo hiểm, Người được bảo 8 hiểm và Người thứ ba có liên quan tới rủi ro bảo hiểm đều có mối quan hệ về quyền lợi và trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ 1.Khái niệm thị trường bảo hiểm phi nhân thọ “Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ là thị trường bảo hiểm những rủi ro liên quan đến sức khỏe của con người như ốm đau, bệnh tật, tai nạn; những rủi ro liên quan đến hư hỏng, mất mát tài sản; những rủi ro liên quan đến trách nhiệm dân sự - tức trách nhiệm hay nghĩa vụ bồi thường các thiệt hại gây ra cho người khác”.2 Các yếu tố của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ : a.
Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Doanh nghiệp bảo hiểm là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm và các quy định khác của pháp luật có liên quan để kinh doanh bảo hiểm. Trong đó : “DNBH là một loại doanh nghiệp dịch vụ; hoạt động của nó cũng nhằm mục đích sinh lời. Điểm khác nhau cơ bản giữa DNBH với các doanh nghiệp khác là ở chỗ : DNBH là doanh nghiệp chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm; nó có trách nhiệm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra tổn thất nếu người mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm cho doanh nghiệp. Như vậy, muốn phân biệt phải dựa vào đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm”.
Các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm: 1. Doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước; 2. Công ty cổ phần bảo hiểm; 3. Tổ chức bảo hiểm tương hỗ; 4.
Doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh; 5. Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài. 9 DNBH bao gồm doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, DNBH phi nhân thọ, doanh nghiệp chuyên kinh doanh bảo hiểm sức khỏe, doanh nghiệp tái bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ là doanh nghiệp cung cấp các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ như bảo hiểm tài sản và thiệt hại, bảo hiểm hàng hóa, bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm trách nhiệm … DNBH hoạt động vì mục đích sinh lợi, vì vậy nó có những đặc điểm sau : + Đối tượng kinh doanh đa dạng : Đối tượng bảo hiểm trong bảo hiểm thương mại là tài sản, trách nhiệm dân sự và con người.
Mỗi đối tượng bảo hiểm bao gồm rất nhiều nghiệp vụ cụ thể. Mỗi nghiệp vụ là một họa động kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp bán sản phẩm bảo hiểm ra thị trường và thu về phí bảo hiểm (giá bào hiểm). Phí đó được tính toán trên cơ sở khoa học đảm bảo thu bù chi, làm nghĩa vụ đối với Nhà nước và có lãi cho doanh nghiệp”. Với đối tượng bảo hiểm đa dạng như vậy, quy luật số lớn trong KDBH càng phát huy tác dụng; do đó mục đích lợi nhuận sẽ đạt được.
+ Hoạt động kinh doanh bảo hiểm có vốn pháp định lớn : Nguồn vốn của DNBH bao gồm vốn điều lệ, phí bảo hiểm thu được, lãi đầu tư … Trong đó, vốn điều lệ phải đảm bảo mức vốn pháp định do luật quy định (Công ty BHNT : 600 tỷ đồng; Công ty BH phi nhân thọ : 300 tỷ đồng). Vốn pháp định được quy định lớn như vậy là do đặc thù KDBH là kinh doanh rủi ro. + Hoạt động KDBH luôn phải có dự phòng nghiệp vụ : “Doanh nghiệp KDBH phải trích lập dự phòng nghiệp vụ từ phí bảo hiểm của từng nghiệp vụ đối với phần trách nhiệm giữ lại của doanh nghiệp. Bởi lẽ KDBH có sự tích lũy rủi ro, phí bảo hiểm thu được các DNBH phải trích dự phòng bồi thường, dự phòng dao động lớn và dự phòng toán học.
Đối với DNBH phi nhân thọ, dự phòng nghiệp vụ bao gồm : Dự phòng phí chưa hưởng dùng để bồi thường cho trách nhiệm sẽ phát sinh trong thời gian còn hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm 10 trong năm tiếp theo; Dự phòng bồi thường cho khiếu nại chưa được giải quyết; Dự phòng bồi thường cho các dao động lớn. Cụ thể để bồi thường khi có dao động lớn về tổn thất hoặc tổn thất lớn xảy ra sau khi đã trừ hai loại dự phòng nghiệp vụ trên không đủ để trả tiền bồi thường thuộc phần trách nhiệm của DNBH”. + Hoạt động kinh doanh bảo hiểm luôn gắn kết với hoạt động đầu tư : Hoạt động đầu tư là một bộ phận trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Hoạt động đầu tư vừa góp phần phát triển quỹ tài chính, tạo điều kiện mở rộng quy mô của doanh nghiệp, tăng quỹ phúc lợi, vừa tăng thu nhập cho người lao động, vừa thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội.
Nguồn vốn đầu tư phát triển gồm có vốn điều lệ, quỹ dự trữ bắt buộc và tự nguyện, các khoản lãi của những năm trước chưa sử dụng, vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm. + Các doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động kinh doanh bảo hiểm tuân thủ quy định của luật kinh doanh bảo hiểm, các quy định khác của pháp luật có liên quan và các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia. b) Khách hàng : “Mọi tổ chức và cá nhân trong xã hội đề có thể ký kết các hợp đồng bảo hiểm, tùy theo những điêu kiện cụ thể và nhu cầu của họ. Cho nên nếu hiểu theo nghĩa rộng thì khách hàng của DNBH là các cá nhân và tổ chức trong xã hội, bao gồm cả khách hàng hiện tại doanh nghiệp đang quản lý và khách hàng tương lai.
Bộ phận khách hàng tương lai có thể họ đang tham gia bảo hiểm ở các doanh nghiệp khác và có thể hiện tại họ chưa tham gia loại hình bảo hiểm thương mại nào. Cách hiểu này hoạch định chiến lược bảo hiểm nghiên cứu thị trường, dự báo khả năng khai thác, thiết kế thử những sản phẩm bảo hiểm mới… để từ đó xác đinh chiến lược ngắn hạn và dài hạn trong kinh doanh. Tuy nhiên, đứng trên góc đọ quản trị khách hàng hầu hết các nhà quản trị kinh doanh bảo hiểm treen thế giới đều có chung một cách hiểu : Khách hàng của DNBH là tất cả những tổ chức và cá nhân giao kết đồng bảo hiểm với DNBH và đóng phí bảo hiểm. Mỗi cá nhân, mỗi tổ chức 11 đều có thể tham gai ký kết nhiều hợp đồng ở nhiều loại hình bảo hiểm khác nhau.
Vì thế tính quần chúng của bảo hiểm có vai trò rất lớn trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm”. “Để trở thành khách hàng thực thụ của doanh nghiệp bảo hiểm, các nhà quản trị bảo hiểm thường đưa ra một số “tiêu chuẩn” liên quan đến khách hàng như : Tư cách pháp nhân, hành vi và năng lực pháp lý, độ tuổi, tinh trạng sức khỏe… Căn cứ vào những tiêu chuẩn này, đại lý bảo hiểm hoặc DNBH đánh giá rủi ro và sàng lọc. Thực tế, khách hàng ảo hiểm và đối tượng được bảo hiểm của khách hàng rất đa dạng và phức tạp, nguy cơ và độ trầm trọng của rủi ro rất khác nhau. Do vậy, nhà bảo hiểm phải tiến hành sàng lọc và nhiều trường hợp phải từ chối bảo hiểm nếu như độ trầm trọng của rủi ro quá lớn, rủi ro mà khách hàng đưa đến cho DNBH quá xấu, xác suất xảy ra tổn thất gần như chắc chắn”.
Khách hàng của DNBH thường phân làm 2 loại : Khách hàng là các cá nhân và khách hàng là các tổ chức xã hội. Mặc dù các tổ chức trong xã hội cũng có mong muốn và kỳ vọng tương tự như khách hàng là các cs nhân, thế nhưng sự khác nhau cơ bản giữa 2 nhóm khách hàng này là sự phức tạp của công tác đánh giá rủi ro và việc sử dụng các phương pháp khách nhau để phòng tránh và hạn chế các rủi ro đó. + Nhóm khách hàng là cá nhân : “Do điều kiện kinh tế xã hội ngày càng phát triển, mức thu nhập và đời sống của dân cư ngày càng cao nên các cá nhân có nhu cầu tham gia bảo hiểm ngày càng nhiều và những dịch vụ bảo hiểm mà họ mong muốn cũng ngày càng đa dạng. Nhóm khách hàng này có đặc điểm là họ luôn hy vọng bảo hiểm sẽ mang lại cho họ một số lợi ích nhất định, do vậy, họ thường quan tâm đến giá cả và giá trị của sản phẩm, nghĩa là họ sẽ tìm đến những nhà bảo hiểm cung cấp phạm vi bảo hiểm rộng nhất với mức phí bảo hiểm thấp nhất.
Khi gặp tổn thất hoặc thiệt hại, họ mong muốn giải quyết khiếu nại nhanh nhất, công bằng nhất với thái độ lịch sự và thân thiện. Phần đông khách hàng này mong muốn tham gia bảo hiểm ở các DNBH lớn, có uy tín, có chuyên môn cao và thân quen với họ. Nếu xét ở khía cạnh tâm lý thì 12 nhóm khách hàng này chịu sự chi phối bởi phong tục tập quán và có thể mang nặng yếu tố mê tín.