Chương 1: Cơ sở khoa học về“sản phẩm bảo hiểm”tín dụng Chương 2: Tình hình triển khai“sản phẩm bảo hiểm”bảo an tín dụng tại ABIC (2010-2015) Chương 3: Giải pháp và kiến nghị phát triển sản phẩm bảo an tín dụng tại ABIC 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ SẢN PHẨM BẢO HIỂM BẢO AN TÍN DỤNG 1.1 Sự cần thiết và vai trò của sản phẩm bảo hiểm bảo an tín dụng 1.1 Sự cần thiết của sản phẩm bảo hiểm bảo an tín dụng Mặc dù“nền kinh tế đã có nhiều chuyển biến tốt nhưng vẫn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Vấn đề nợ xấu, nợ quá hạn của các Doanh nghiệp diễn ra nhiều dẫn đến tâm lý e ngại của các Ngân hàng. Trái ngược với các doanh nghiệp, nhu cầu vay vốn để kinh doanh nhỏ lẻ, vay tiêu dùng… của các cá nhân ngày một cao. Theo các chuyên gia tài chính ngân hàng, thị trường tín dụng cá nhân của Việt Nam được đáng giá là rất tiềm năng bởi: Thứ nhất, Việt Nam với hơn 93 triệu dân (tính đến đầu năm 2016) và với trên 51% là dân số “vàng”.
Hàng năm có hàng triệu người ra nhập thị trường lao động. Tỷ lệ người trong độ tuổi lao động khoảng gần 60% (Theo thống kê dân số Việt Nam theo tuổi năm 2016 - http://thegioibantin.com/thap-dan-so-viet-nam- 2016. Với đa số dân số trong đó có độ tuổi trẻ, có thu nhập, phong cách sống hiện đại và nhu cầu mua sắm lớn, đồng thời, những khảo sát gần đây đều cho thấy, xu hướng tiêu dùng trước, trả sau tăng nhanh. Chính vì thế, các sản phẩm tín dụng bán lẻ của các ngân hàng được triển khai trong thời gian gần đây đã được khách hàng rất quan tâm và thu được không ít thành công.
Thứ hai, Việt Nam có nền kinh tế đang phát triển, rất năng động. Chính phủ Việt Nam trong những năm gần đây cũng có rất nhiều nỗ lực trong việc hội nhập, thông qua việc ký kết các hiệp định song đa phương, tham gia vào các cộng đồng kinh tế chung của khu vực và thế giới. Các nỗ lực này sẽ mang lại nhiều cơ hội phát triển kinh tế. Thông qua đó thu nhập và nhu cầu của người dân ngày càng được nâng cao.
Bên cạnh đó, các chương trình khởi nghiệp của người trẻ cũng đang nở rộ nên nhu cầu về vốn kinh doanh, vốn khởi nghiệp của dân chúng cũng ngày một tăng cao. 5 Chính các nguyên nhân trên nên rất nhiều chuyên gia kinh tế nhận định thị trường tín dụng cá nhân của Việt Nam sẽ bùng nổ trong 5 năm tới. Mặc dù tiềm năng thị trường là rất lớn nhưng cũng đòi hỏi các Ngân hàng thương mại phải có một sự đầu tư nhất định để có thể khai thác hiệu quả. Không thể áp dụng mô hình quản lý của các món vay lớn, trung, dài hạn vào mô hình để quản lý các món vay nhỏ, ngắn hạn.
Bởi vì: - Các khoản vay tín dụng cá nhân thường không lớn nhưng số lượng món vay lại rất nhiều. Các Ngân hàng phải cập nhật rất nhiều thông tin của Khách hàng và phải thực hiện rất nhiều bước từ lúc tiếp nhận hồ sơ, thẩm định, giải ngân và cho đến thu hồi nợ. Điều này dẫn đến chi phí cho một khoản vay tín dụng cá nhân lớn nhất so với các sản phẩm tín dụng các của Ngân hàng. Các Ngân hàng phải cần đầu tư cho hệ thống phần mềm để có thể quản lý chặt chẽ số lượng các khoản vay tín dụng các nhân khổng lồ.
- Các khoản vay tín dụng cá nhân thường có rủi ro tín dụng cao hơn cho vay doanh nghiệp. Các rủi ro do tín dụng cá nhân mang lại chủ yếu do: + Rủi ro về lãi suất: các khoản vay tín dụng cá nhân thường không linh hoạt về lãi suất. Người vay cũng ít quan tâm đến tỷ lệ lãi suất mà thường chỉ quan tâm đến số tiền mà họ phải trả hàng tháng. Với các khoản vay trung, dài hạn cho doanh nghiệp kinh doanh thường có mức lãi suất thả nổi, mức lãi suất này sẽ thay đổi theo thời gian và theo lãi suất của thị trường.
Do vậy rủi ro về lãi suất của các món vay trung dài hạn để phục vụ kinh doanh thường thấp hơn các món vay tín dụng cá nhân. + Rủi ro về đạo đức: Rủi ro này bắt nguồn từ cả phía ngân hàng và cả phía người đi vay. Cán bộ Ngân hàng do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan đã bỏ qua các bước trong Quy trình tín dụng, thẩm định khách hàng không đúng với thực tế dẫn đến việc cấp vốn, giải ngân cho Khách hàng không đúng quy định. Bên cạnh đó, nếu Lãnh đạo quản lý cũng thiếu sát sao trong công tác quản lý thì rủi ro tín dụng lại càng tăng cao.
Đồng thời, việc thu hồi vốn vay phụ thuộc chính vào khả năng trả nợ của Khách hàng. Nếu khách hàng cố tình chiếm dụng vốn hoặc trì hoãn việc trả nợ cho Ngân hàng sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả của nguồn vốn vay. 6 + Rủi ro khách quan mà người vay gặp phải. Khả năng hoàn trả vốn vay phụ thuộc vào thu nhập của Người vay vốn.
Các rủi ro từ phía Người vay như công việc làm ăn không tốt, Người vay vốn gặp rủi ro về sức khỏe, tính mạnh… sẽ làm ảnh hưởng đến khả năng thực hiện các nghĩa vụ đối với khoản vay. Các rủi ro từ môi trường xã hội như suy thoái kinh tế, hạn hán, mất mùa…cũng sẽ là những nguy cơ làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của Khách hàng. Để quản lý tốt và phát huy tối đa hiệu quả của dịch vụ tín dụng cá nhân, các Ngân hàng phải có các giải pháp quản lý rủi ro tín dụng chặt chẽ. Các giải pháp đã được đưa ra như sau: Thứ nhất, xây dựng Quy trình cấp tín dụng chuẩn, chặt chẽ và đảm bảo việc tuân thủ trong hệ thống của mình.
Các Ngân hàng có các quy định về đánh giá rủi ro trước khi cấp đơn, chấm điểm khách hàng tốt. Tuân thủ đúng Quy trình cấp tín dụng sẽ giúp Ngân hàng sàng lọc được các khách hàng tốt, đảm bảo và đủ điều kiện để cấp tín dụng. Tuy nhiên, Quy trình này mới chỉ là quy trình sàng lọc để đề phòng và hạn chế rủi ro tín dụng. Thứ hai, các ngân hàng thực hiện phân loại nợ và trích lập quỹ dự phòng để xử lý các rủi ro liên quan đến tín dụng.
Cách thức phân loại nợ, trích lập quỹ và sử dụng quỹ này được Ngân hàng Nhà nước quy định cụ thể tại Văn bản mới nhất số 22/VBHN-NHNN ngày 04/06/2014. Các Ngân hàng đều phải tuân thủ việc trích lập quỹ dự phòng này. Tuy nhiên, việc trích lập quỹ dự phòng sẽ làm tăng giá vốn của các sản phẩm tín dụng, làm giảm sức cạnh tranh của Ngân hàng. Thứ ba, các Ngân hàng kết hợp cùng các Doanh nghiệp bảo hiểm để cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho Người vay.
Trong đời sống xã hội, “bảo hiểm” là một khái niệm thường gặp dùng để chỉ một trong những biện pháp hữu hiệu để phân tán rủi ro.Cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho khách hàng vay vốn cũng là một biện pháp quan trọng nhằm san sẻ rủi ro trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng. Đặc biệt, hiện nay các doanh nghiệp bảo hiểm cũng cung cấp các“sản phẩm bảo hiểm”phù hợp với các gói vay tín dụng cá nhân của Ngân hàng. Một số“sản phẩm bảo hiểm”dành cho các sản phẩm tín dụng cá nhân: Bảo hiểm cho sức khỏe/tính mạng của người vay 7 vốn – (sản phẩm bảo an tín dụng, bảo hiểm tai nạn con người, bảo hiểm chăm sóc sức khỏe toàn diện…), bảo hiểm cho các tài sản thế chấp. Thực tế cho thấy, hầu hết cá nhân và gia đình vay tiền nhằm hai mục đích chính là mua nhà cửa, đất đai, xây sửa nhà và vay phục vụ sản xuất kinh doanh.
Với các khoản vay dài hạn, thời gian trả nợ trên 05 năm, khách hàng có thể giảm được áp lực trả nợ, nhưng mặt khác sẽ phát sinh rủi ro ngay cả khi đã có tài sản đảm bảo, vì nếu không may người vay qua đời do mắc bệnh hiểm nghèo hoặc gặp tai nạn nghiêm trọng không có khả năng trả nợ thì tài sản đảm bảo của người vay sẽ thuộc về ngân hàng. Theo nguyên tắc cho vay của ngân hàng, trong trường hợp người vay qua đời nếu có tài sản đảm bảo ngân hàng sẽ phát mại tài sản (nhà ở, phương tiện đi lại, sổ tiết kiệm,…) hoặc người thân (vợ/chồng, con cái) phải đứng ra trả nợ thay. Tuy nhiên trên thực tế, người vay nói chung đều không muốn ngân hàng xử lý theo một trong hai phương án trên. Đây chính là cơ sở để các doanh nghiệp bảo hiểm cho ra đời hình thức bảo an tín dụng, nhằm bảo vệ tài sản đảm bảo và tránh gánh nặng trả nợ thay cho thân nhân khách hàng.
Theo đó, trong trường hợp người vay tử vong hoặc gặp rủi ro bất ngờ về sức khỏe, toàn bộ dư nợ gốc và lãi phát sinh của khoản vay sẽ được các DNBH đứng ra chi trả một phần hoặc toàn bộ. Sản phẩm bảo an tín dụng ra đời đã đáp ứng nhu cầu bảo vệ tài sản đảm bảo và khoản vay khi không may rủi ro sức khỏe xảy đến với khách hàng.2 Vai trò của sản phẩm bảo hiểm bảo an tín dụng Sản“phẩm bảo hiểm bảo an tín dụng là loại hình bảo hiểm con người phi nhân thọ, với đối tượng bảo hiểm là sức khỏe và tính mạng của Người được bảo hiểm. Sản phẩm này được thiết kế gắn với các gói tín dụng cá nhân của ngân hàng và triển khai trên thị trường bảo hiểm Việt Nam từ năm 2009 thông qua mô hình Bancassurace. Đến nay, sản phẩm này đã dần quen thuộc với các khách hàng vay vốn tại các ngân hàng.“Sản phẩm bảo hiểm”bảo an tín dụng mang lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia là ngân hàng, khách hàng và doanh nghiệp bảo hiểm.
Vai trò của“sản phẩm bảo hiểm”BATD được thể hiện như sau: 8 1.1 Đối với ngân hàng Cung cấp“sản phẩm bảo hiểm”BATD giúp ngân hàng tăng doanh thu, lợi nhuận và các lợi ích tài chính khác: Cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng khốc liệt, biên lãi suất ngày càng thu hẹp, làm tăng chi phí quản lý, chi phí marketing và giảm lợi nhuận biên của các sản phẩm ngân hàng truyền thống. Cung cấp“sản phẩm bảo hiểm”có thể giúp nâng cao đáng kể lợi nhuận. Các lợi ích tài chính mang lại cho ngân hàng dưới nhiều hình thức khác nhau, có thể kể ra một số lợi ích cơ bản dưới đây: - Gia tăng thu nhập, dưới hình thức tiền hoa hồng và/hoặc lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh (tùy thuộc vào mối quan hệ hợp tác).