Luận văn thạc sĩ: Quản lý nhà nước về công trình thủy lợi Đắk Lắk

Luận văn thạc sĩ: Quản lý nhà nước về khai thác, bảo vệ công trình thủy lợi lớn và vừa tại Đắk Lắk. Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý.

Trường đại học

Học Viện Hành Chính Quốc Gia

Chuyên ngành

Quản Lý Công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2021

131
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

1. Chƣơng 1: CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI

1.1. Lý luận về khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi

1.2. Quản lý nhà nước về khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi

1.3. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi của các địa phương

2. Chƣơng 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI LỚN VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK

2.1. Hệ thống thủy lợi trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

2.2. Thực trạng quản lý nhà nước về khai thác và bảo vệ các công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

2.3. Đánh giá chung công tác quản lý nhà nước về khai thác và bảo vệ các công trình thủy lợi lớn và vừa trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

3. Chƣơng 3: ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI LỚN VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK

3.1. Định hướng về khai thác và bảo vệ các công trình thủy lợi

3.2. Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về khai thác và bảo vệ các công trình thủy lợi lớn và vừa trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

Tóm tắt

I. Khám phá Toàn cảnh Hệ thống Thủy lợi Đắk Lắk quan trọng ra sao

Đắk Lắk, vùng đất chiến lược của Tây Nguyên, sở hữu tiềm năng nông nghiệp và phát triển kinh tế to lớn. Nền tảng cho sự phát triển này là hệ thống thủy lợi Đắk Lắk đồ sộ, đóng vai trò then chốt trong việc điều hòa nguồn nước, phục vụ tưới tiêu nông nghiệp và đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, công nghiệp. Việc quản lý công trình thủy lợi Đắk Lắk hiệu quả không chỉ là mục tiêu trước mắt mà còn là chiến lược dài hạn, đảm bảo an ninh nguồn nước Đắk Lắk và thúc đẩy phát triển thủy lợi bền vững. Luận văn của Nguyễn Phương Huyền (2021) đã đi sâu phân tích thực trạng quản lý nhà nước về khai thác và bảo vệ các công trình thủy lợi lớn và vừa trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, cung cấp cái nhìn toàn diện về bức tranh thủy lợi tại địa phương. Đây là một nghiên cứu khoa học thủy lợi quan trọng, góp phần làm sáng tỏ những thách thức và định hướng cho tương lai.

Theo định nghĩa, thủy lợi bao gồm tổng hợp các giải pháp nhằm tích trữ, điều hòa, chuyển, phân phối, cấp, tưới, tiêu và thoát nước phục vụ đa dạng các ngành nghề. Điều này kết hợp phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu (trích dẫn NĐ 67/2018/NĐ-CP ngày 14/5/2018 của Chính phủ, theo luận văn). Các công trình thủy lợi là xương sống của hệ thống này, bao gồm đập, hồ chứa nước, cống, trạm bơm, hệ thống dẫn nước, kè, và bờ bao thủy lợi, cùng các công trình khác phục vụ quản lý, khai thác thủy lợi. Với lượng mưa hàng năm lớn (1600mm-2000mm) và mật độ sông suối dày đặc, Đắk Lắk có lợi thế tự nhiên để phát triển cơ sở hạ tầng thủy lợi. Tuy nhiên, việc khai thác và bảo vệ các tài sản quý giá này đòi hỏi một cơ chế quản lý công trình thủy lợi Đắk Lắk khoa học, đồng bộ và liên tục được cải tiến để phát huy tối đa tiềm năng, đảm bảo nguồn tài nguyên nước Đắk Lắk được sử dụng hiệu quả.

Mục tiêu của công tác quản lý công trình thủy lợi Đắk Lắk không chỉ là duy trì hoạt động mà còn là tối ưu hóa hiệu quả quản lý thủy lợi, giảm thiểu thất thoát và ứng phó kịp thời với các thách thức từ môi trường và xã hội. Điều này đặc biệt quan trọng khi Đắk Lắk đối mặt với hiện tượng thời tiết cực đoan như hạn hán Đắk Lắk và lũ lụt, vốn gây ra nhiều thiệt hại cho sản xuất và đời sống. Luận văn đã chỉ ra rằng, nhiều hệ thống thủy lợi hiện hữu được thiết kế để phục vụ nền sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ trước đây, không còn đáp ứng đầy đủ yêu cầu của nền nông nghiệp đa dạng, hiện đại hóa. Các hệ thống này chủ yếu tập trung cung cấp nước cho cây lúa, trong khi phần lớn cây trồng cạn chưa được tưới hoặc được tưới bằng các biện pháp lạc hậu, lãng phí nước. Thêm vào đó, việc xây dựng một số cơ sở hạ tầng đô thị, công nghiệp, giao thông đã làm cản trở việc thoát lũ, gây thêm áp lực cho các hệ thống thủy lợi.

Những vấn đề này đặt ra yêu cầu cấp bách về việc đổi mới tư duy, nâng cao tính chủ động sáng tạo trong công tác quản lý công trình thủy lợi Đắk Lắk để phù hợp với mục tiêu tái cơ cấu ngành nông nghiệp và phát triển bền vững. Công trình nghiên cứu này không chỉ là một luận văn về thủy lợi mà còn là tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà quản lý và hoạch định chính sách quản lý nước tại Đắk Lắk, góp phần xây dựng quy hoạch thủy lợi toàn diện và hiệu quả hơn. Nỗ lực này sẽ tạo nền tảng vững chắc cho sự thịnh vượng của Tây Nguyên thủy lợi nói chung và Đắk Lắk nói riêng.

1.1. Khái niệm và vai trò thiết yếu của công trình thủy lợi đối với Đắk Lắk

Thủy lợi là một ngành khoa học và kỹ thuật chuyên giải quyết các vấn đề liên quan đến nước, từ việc điều hòa, phân phối đến kiểm soát lũ lụt và chống hạn hán Đắk Lắk. Trong bối cảnh của Đắk Lắk, các công trình thủy lợi đóng vai trò cực kỳ thiết yếu. Chúng không chỉ là các hồ chứa, đập dâng, hệ thống kênh mương mà còn là mạng lưới phức tạp phục vụ mục tiêu đa ngành. Vai trò chính bao gồm cung cấp nước cho tưới tiêu nông nghiệp, đặc biệt là cây công nghiệp chủ lực như cà phê, hồ tiêu, cũng như cây lương thực. Bên cạnh đó, công trình thủy lợi còn cấp nước sinh hoạt cho cộng đồng, hỗ trợ phát triển công nghiệp và nuôi trồng thủy sản.

Với đặc điểm khí hậu Tây Nguyên thủy lợi có mùa mưa và mùa khô rõ rệt, khả năng điều tiết nước của các công trình này là vô cùng quan trọng để ứng phó với tình trạng thiếu nước vào mùa khô và giảm thiểu thiệt hại do lũ lụt vào mùa mưa. Theo luận văn của Nguyễn Phương Huyền (2021), công trình thủy lợi được định nghĩa là công trình hạ tầng kỹ thuật bao gồm đập, hồ chứa, cống, trạm bơm, hệ thống dẫn, chuyển nước, kè, bờ bao và các công trình khác phục vụ quản lý, khai thác thủy lợi. Việc tồn tại và vận hành công trình thủy lợi hiệu quả là nền tảng để Đắk Lắk có thể duy trì và phát triển một nền kinh tế nông nghiệp ổn định, hướng tới phát triển thủy lợi bền vững.

1.2. Hiện trạng và đặc điểm cơ sở hạ tầng thủy lợi tại địa phương

Đắk Lắk hiện sở hữu một hệ thống cơ sở hạ tầng thủy lợi tương đối đa dạng, bao gồm cả công trình lớn, vừa và nhỏ. Theo số liệu từ luận văn Nguyễn Phương Huyền (2021), tổng số công trình thủy lợi vừa và lớn trên địa bàn tỉnh là 303 công trình, với tổng trữ lượng nước khoảng 579.000 m3, đảm bảo tưới cho gần 73.000 ha cây trồng các loại. Cụ thể, có 64 công trình thủy lợi lớn và 239 công trình thủy lợi vừa, phân bổ tại nhiều huyện, thị xã. Công ty TNHH MTV Quản lý công trình thủy lợi Đắk Lắk đang quản lý một phần lớn trong số này, với 43 công trình lớn và 146 công trình vừa.

Phần lớn các công trình thủy lợi này được xây dựng từ lâu, một số từ những thập niên 80 của thế kỷ trước. Do đó, mặc dù đã có những nỗ lực đầu tư xây dựng, nâng cấp và sửa chữa trong những năm gần đây (như Ea Súp Thượng, Krông Búk Hạ), nhiều công trình vẫn đối mặt với tình trạng xuống cấp, hư hỏng. Hệ thống kênh mương đã được kiên cố hóa ở phần kênh chính nhưng kênh nhánh và kênh nội đồng chủ yếu vẫn là kênh đất, dễ bị bồi lấp, xói lở. Vận hành công trình thủy lợi hiện hữu còn gặp nhiều khó khăn do hồ sơ thất lạc, thiếu kinh phí bảo trì. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả quản lý thủy lợi và khả năng cung cấp nước chủ động cho tưới tiêu nông nghiệp trong bối cảnh biến đổi khí hậu phức tạp.

II. Đâu là Thách thức Cản trở Quản lý Công trình Thủy lợi Đắk Lắk Hiện nay

Công tác quản lý công trình thủy lợi Đắk Lắk đang phải đối mặt với nhiều thách thức đáng kể, từ các vấn đề về cơ sở hạ tầng đến những hạn chế trong khung pháp lý và năng lực triển khai. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực đầu tư và cải thiện, tình trạng công trình xuống cấp, hư hỏng vẫn diễn ra phổ biến, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả quản lý thủy lợi và khả năng cung cấp nước ổn định cho tưới tiêu nông nghiệp. Luận văn của Nguyễn Phương Huyền (2021) đã chỉ rõ nhiều điểm nghẽn, nhấn mạnh sự cần thiết của các giải pháp đồng bộ để vượt qua những khó khăn này, hướng tới phát triển thủy lợi bền vững.

Một trong những thách thức lớn nhất là tuổi thọ của nhiều công trình. Phần lớn các cơ sở hạ tầng thủy lợi tại Đắk Lắk được xây dựng từ những năm 80-90 của thế kỷ trước. Thiết kế ban đầu có thể không còn phù hợp với điều kiện khí hậu và yêu cầu sử dụng nước hiện tại, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu ảnh hưởng thủy lợi ngày càng rõ rệt. Các hiện tượng thời tiết cực đoan như hạn hán Đắk Lắk kéo dài và mưa lũ bất thường gây áp lực lớn lên các đập, hồ chứa và hệ thống kênh mương. Tình trạng bồi lắng lòng hồ, xói lở mái đập, hư hỏng tràn xả lũ và cống lấy nước diễn ra thường xuyên, làm suy giảm nghiêm trọng khả năng vận hành công trình thủy lợi an toàn và hiệu quả.

Bên cạnh đó, các hành vi xâm hại công trình thủy lợi cũng là một vấn đề nhức nhối. Tình trạng lấn chiếm hành lang bảo vệ công trình, đào ao nuôi cá sát chân đập, trồng cây trên mái đập hoặc xây dựng công trình trái phép trong lòng hồ diễn ra phổ biến ở nhiều địa phương. Tuy nhiên, việc chế tài và xử phạt các hành vi này vẫn còn bỏ ngỏ, dẫn đến sự xuống cấp nhanh chóng của hệ thống thủy lợi Đắk Lắk. Thiếu kinh phí để cắm mốc chỉ giới, lập quy trình vận hành chi tiết, và kiểm định an toàn đập cũng là rào cản lớn, làm giảm khả năng kiểm soát và bảo vệ tài sản nhà nước.

Năng lực của các tổ chức quản lý công trình thủy lợi Đắk Lắk, đặc biệt là các tổ chức thủy lợi cơ sở, chưa đồng đều. Việc thiếu hụt đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn cao và kinh nghiệm trong kỹ thuật thủy lợi hiện đại là một hạn chế. Ngoài ra, việc quản lý tổng hợp tài nguyên nước chưa được triển khai triệt để, dẫn đến tình trạng sử dụng nước chưa hiệu quả, lãng phí và không đáp ứng được nhu cầu đa dạng của xã hội. Việc hoàn thiện pháp luật thủy lợi và các chính sách quản lý nước cũng cần được đẩy mạnh để tạo hành lang pháp lý vững chắc cho công tác quản lý công trình thủy lợi Đắk Lắk trong tương lai.

2.1. Phân tích nguyên nhân công trình xuống cấp hư hỏng và tác động

Tình trạng công trình xuống cấp, hư hỏng trên địa bàn Đắk Lắk bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan. Nguyên nhân chính là tuổi thọ của các công trình. Theo luận văn Nguyễn Phương Huyền (2021), nhiều công trình được xây dựng từ những năm 1980, 1990 với tiêu chuẩn kỹ thuật cũ, không còn phù hợp với điều kiện vận hành hiện tại. Hiện tượng bồi lắng lòng hồ diễn ra nhanh chóng, đặc biệt ở các lưu vực nhỏ nơi canh tác cây công nghiệp, làm giảm dung tích trữ nước và tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn. Mái thượng lưu của đập đất thường bị xói lở, biến dạng do tác động của mực nước, trong khi mái hạ lưu bị thấm nhiều, cây cối mọc um tùm. Đỉnh đập chủ yếu bằng đất, kết hợp giao thông, dễ bị xói lở, lồi lõm.

Các hành vi xâm hại công trình thủy lợi của người dân như đục khoét kênh bê tông, xây dựng trái phép, khai thác cát, sỏi cũng góp phần làm công trình xuống cấp, hư hỏng nhanh chóng. Vấn đề thiếu kinh phí bảo trì, sửa chữa cũng là một rào cản lớn. Các tác động của biến đổi khí hậu ảnh hưởng thủy lợi, như hạn hán Đắk Lắk kéo dài và lũ lụt bất thường, làm tăng cường độ hao mòn và phá hủy công trình. Sự xuống cấp này trực tiếp làm giảm hiệu quả quản lý thủy lợi, gây ra thiệt hại tài sản nhà nước và ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, sản xuất của nông dân vùng hưởng lợi.

2.2. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và hạn hán Đắk Lắk đến hệ thống

Biến đổi khí hậu đang đặt ra những thách thức nghiêm trọng đối với hệ thống thủy lợi Đắk Lắk. Các hiện tượng thời tiết cực đoan như hạn hán Đắk Lắk và lũ lụt diễn ra thường xuyên hơn, với cường độ lớn hơn. Điều này không chỉ gây ra tình trạng thiếu nước nghiêm trọng vào mùa khô, ảnh hưởng đến tưới tiêu nông nghiệp, mà còn đe dọa an toàn công trình vào mùa mưa lũ. Theo luận văn của Nguyễn Phương Huyền (2021), nhiều đập trong quá trình khai thác đã từng bị nước lũ tràn qua đỉnh đập hoặc mấp mé đỉnh đập, gây nguy hiểm lớn. Khả năng thoát lũ của các tràn xả lũ bị suy giảm do quy mô nhỏ, bồi lắng và hư hỏng.

Tình trạng rừng phòng hộ đầu nguồn suy giảm, thảm phủ thực vật thay đổi mạnh do chuyển đổi sang cây công nghiệp cũng làm trầm trọng thêm tình trạng lũ lụt và hạn hán Đắk Lắk. Các công trình được thiết kế theo tiêu chuẩn thời kỳ trước nay không còn phù hợp với điều kiện khí hậu mới, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn cao. Việc quản lý công trình thủy lợi Đắk Lắk trong bối cảnh này đòi hỏi sự linh hoạt, khả năng dự báo tốt và các giải pháp kỹ thuật, công nghệ mới để thích ứng hiệu quả.

2.3. Hạn chế về chính sách quản lý nước và năng lực triển khai

Mặc dù Luật Thủy lợi 2017 và các văn bản hướng dẫn đã được ban hành, công tác triển khai chính sách quản lý nước tại Đắk Lắk vẫn còn nhiều tồn tại, bất cập. Luận văn Nguyễn Phương Huyền (2021) chỉ ra rằng việc thực hiện các quy định pháp luật gặp khó khăn do thiếu kinh phí. Cụ thể, chi phí cho việc cắm mốc chỉ giới bảo vệ công trình, lập quy trình vận hành hồ chứa, kiểm định an toàn đập rất lớn, vượt quá khả năng ngân sách địa phương và nguồn lực của các tổ chức quản lý.

Năng lực của các tổ chức, cá nhân tham gia quản lý công trình thủy lợi Đắk Lắk cũng là một hạn chế. Ngoại trừ Công ty TNHH MTV Quản lý công trình thủy lợi Đắk Lắk tương đối đáp ứng được, các tổ chức thủy lợi cơ sở thường gặp khó khăn trong việc đáp ứng các yêu cầu về năng lực theo quy định. Việc phân cấp quản lý còn chưa hoàn thiện, đặc biệt trong việc xác định vị trí giao nhận sản phẩm dịch vụ thủy lợi công ích, gây ra vướng mắc trong việc phối hợp và trách nhiệm. Thêm vào đó, nhận thức của một bộ phận người dân về bảo vệ công trình thủy lợi và sử dụng nước tiết kiệm còn hạn chế, làm giảm hiệu quả quản lý thủy lợi tổng thể.

III. Cách Tối ưu Vận hành Công trình Thủy lợi Đắk Lắk Đạt Hiệu quả Cao

Để nâng cao hiệu quả quản lý thủy lợi và tối ưu hóa vận hành công trình thủy lợi Đắk Lắk, cần có một chuỗi các giải pháp đồng bộ từ cấp chính sách đến năng lực thực thi và sự tham gia của cộng đồng. Luận văn của Nguyễn Phương Huyền (2021) đã đưa ra nhiều khuyến nghị quan trọng nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về khai thác và bảo vệ các công trình thủy lợi lớn và vừa trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Điều này bao gồm việc củng cố khung pháp luật thủy lợi, tăng cường sự phối hợp liên ngành và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ cũng như các tổ chức thủy lợi cơ sở.

Một trong những trọng tâm là việc hoàn thiện và thực thi nghiêm túc các quy định về quản lý công trình thủy lợi Đắk Lắk. Mặc dù Luật Thủy lợi đã có hiệu lực, nhưng việc triển khai cần được tháo gỡ các vướng mắc về kinh phí để lập quy trình vận hành, cắm mốc hành lang bảo vệ. Việc quy định rõ ràng về quyền và trách nhiệm của các bên liên quan, đặc biệt trong phân cấp quản lý và xác định điểm giao nhận sản phẩm, dịch vụ thủy lợi, sẽ góp phần giảm thiểu tranh chấp và tăng cường tính minh bạch. Hơn nữa, việc xây dựng và thực hiện các phương án ứng phó thiên tai, phương án bảo vệ công trình thủy lợi một cách bài bản, dựa trên đánh giá rủi ro thực tế, là cần thiết để đảm bảo an toàn cho hệ thống thủy lợi Đắk Lắk trong điều kiện biến đổi khí hậu ảnh hưởng thủy lợi ngày càng phức tạp.

Bên cạnh đó, việc nâng cao năng lực cho nguồn nhân lực đóng vai trò cốt yếu. Đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn về kỹ thuật thủy lợi hiện đại, quản lý tổng hợp tài nguyên nước và các kỹ năng vận hành cho cán bộ quản lý, nhân viên kỹ thuật cần được ưu tiên. Sự hiểu biết về các công nghệ mới như GIS, viễn thám, và hệ thống giám sát tự động sẽ giúp tối ưu hóa vận hành công trình thủy lợi và đưa ra quyết định kịp thời. Đồng thời, không thể thiếu vai trò của cộng đồng. Tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về ý nghĩa của công trình thủy lợi và trách nhiệm bảo vệ chúng là yếu tố then chốt để ngăn chặn các hành vi xâm hại, góp phần vào phát triển thủy lợi bền vững.

Các giải pháp này không chỉ hướng tới việc khắc phục những hạn chế hiện tại mà còn tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển lâu dài của tài nguyên nước Đắk Lắk. Việc đầu tư vào con người và công nghệ, kết hợp với một khung chính sách quản lý nước chặt chẽ, sẽ là chìa khóa để quản lý công trình thủy lợi Đắk Lắk đạt hiệu quả cao nhất, phục vụ tốt hơn cho nhu cầu tưới tiêu nông nghiệp và sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

3.1. Hoàn thiện pháp luật thủy lợi và cơ chế phân cấp quản lý

Hoàn thiện pháp luật thủy lợi là nền tảng quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý thủy lợi tại Đắk Lắk. Luận văn của Nguyễn Phương Huyền (2021) nhấn mạnh rằng, dù đã có Luật Thủy lợi và các nghị định hướng dẫn, việc triển khai vẫn còn vướng mắc. Cần tiếp tục rà soát, điều chỉnh các văn bản pháp lý địa phương để phù hợp với thực tiễn, đặc biệt là các quy định về mức hỗ trợ phát triển thủy lợi nhỏ, thủy lợi nội đồng và tưới tiên tiến, tiết kiệm nước (Nghị quyết 13/2020/NQ-HĐND).

Cơ chế phân cấp quản lý công trình thủy lợi cần được quy định rõ ràng hơn, đặc biệt là trong việc xác định điểm giao nhận sản phẩm dịch vụ thủy lợi công ích. Sự thiếu thống nhất trong vấn đề này đã gây khó khăn cho việc triển khai tại Đắk Lắk. Việc ban hành các định mức kinh tế kỹ thuật trong quản lý khai thác CTTL làm cơ sở cho các đơn vị hoạt động hiệu quả hơn. Đồng thời, cần tăng cường chế tài xử phạt các hành vi vi phạm pháp luật thủy lợi, đặc biệt là các hành vi xâm hại công trình thủy lợi, để bảo vệ tài sản nhà nước và duy trì an toàn cho hệ thống thủy lợi Đắk Lắk.

3.2. Nâng cao năng lực cán bộ và sự tham gia của cộng đồng

Nâng cao năng lực cán bộ là yếu tố then chốt để cải thiện quản lý công trình thủy lợi Đắk Lắk. Luận văn của Nguyễn Phương Huyền (2021) chỉ ra rằng, trình độ cán bộ phụ trách công tác thủy lợi tại một số đơn vị cấp huyện còn hạn chế, cần được đào tạo chuyên sâu về kỹ thuật thủy lợi hiện đại, vận hành công trình thủy lợiquản lý tổng hợp tài nguyên nước. Các khóa bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý khai thác CTTL cần được tổ chức thường xuyên, cập nhật kiến thức về chính sách quản lý nước và ứng dụng công nghệ mới.

Sự tham gia của cộng đồng là không thể thiếu trong công tác quản lý công trình thủy lợi Đắk Lắk. Việc nhận thức của người dân về tầm quan trọng của công trình thủy lợi và trách nhiệm bảo vệ hành lang an toàn công trình còn hạn chế ở nhiều nơi. Cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, khuyến khích các tổ chức thủy lợi cơ sở và người dân chủ động tham gia vào quá trình giám sát, bảo vệ và sử dụng nước tiết kiệm. Khi cộng đồng hiểu rõ lợi ích và cùng có trách nhiệm, các hành vi xâm hại sẽ giảm thiểu, góp phần duy trì phát triển thủy lợi bền vững.

IV. Bí quyết Ứng dụng Kỹ thuật Thủy lợi Hiện đại cho Đắk Lắk Bền Vững

Việc ứng dụng kỹ thuật thủy lợi hiện đại là "bí quyết" quan trọng để đột phá trong quản lý công trình thủy lợi Đắk Lắk, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu ảnh hưởng thủy lợi và nhu cầu sử dụng tài nguyên nước Đắk Lắk ngày càng tăng. Luận văn của Nguyễn Phương Huyền (2021) đã gián tiếp chỉ ra sự cần thiết của việc hiện đại hóa hệ thống thủy lợi Đắk Lắk để đáp ứng mục tiêu tái cơ cấu ngành nông nghiệp và phát triển bền vững. Điều này đòi hỏi sự tích hợp các giải pháp quản lý thủy lợi tiên tiến, từ công nghệ giám sát đến quy hoạch thủy lợi tổng thể và quản lý tổng hợp tài nguyên nước.

Một trong những hướng tiếp cận quan trọng là khai thác tối đa tiềm năng của công nghệ thông tin và truyền thông. Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS), viễn thám và công nghệ Internet vạn vật (IoT) trong giám sát vận hành công trình thủy lợi có thể cung cấp dữ liệu theo thời gian thực về mực nước, lưu lượng, tình trạng công trình và lượng mưa. Điều này giúp các nhà quản lý đưa ra quyết định kịp thời, chính xác hơn trong việc điều tiết nước, ứng phó với hạn hán Đắk Lắk hoặc lũ lụt. Hệ thống thủy lợi thông minh sẽ tối ưu hóa việc tưới tiêu nông nghiệp, giảm thiểu lãng phí nước và nâng cao hiệu quả quản lý thủy lợi tổng thể.

Bên cạnh công nghệ, việc xây dựng quy hoạch thủy lợi tổng thể và dài hạn là không thể thiếu. Quy hoạch này cần tính đến các kịch bản biến đổi khí hậu, nhu cầu sử dụng nước đa ngành và khả năng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Quản lý tổng hợp tài nguyên nước là một phương pháp tiếp cận toàn diện, xem xét nước như một hệ thống liên kết, từ nguồn đến người sử dụng cuối cùng. Phương pháp này giúp cân bằng lợi ích giữa các ngành, bảo vệ môi trường và đảm bảo an ninh nguồn nước Đắk Lắk cho thế hệ tương lai.

Việc đầu tư vào kỹ thuật thủy lợi hiện đại không chỉ nâng cao năng lực kỹ thuật của Đắk Lắk mà còn tạo điều kiện để các công trình thủy lợi hoạt động hiệu quả hơn, bền vững hơn. Điều này đòi hỏi sự cam kết về nguồn lực tài chính, chính sách khuyến khích nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, cùng với việc đào tạo đội ngũ nhân lực có đủ trình độ để làm chủ các công nghệ mới. Thông qua đó, quản lý công trình thủy lợi Đắk Lắk sẽ thực sự trở thành một mô hình tiên phong cho sự phát triển của Tây Nguyên thủy lợi.

4.1. Đề xuất giải pháp quản lý thủy lợi dựa trên công nghệ GIS IoT

Các giải pháp quản lý thủy lợi dựa trên công nghệ tiên tiến như Hệ thống thông tin địa lý (GIS) và Internet vạn vật (IoT) mang lại tiềm năng lớn cho Đắk Lắk. Công nghệ GIS cho phép tích hợp, phân tích và hiển thị dữ liệu không gian của toàn bộ hệ thống thủy lợi Đắk Lắk, bao gồm vị trí công trình thủy lợi, mạng lưới kênh mương, lưu vực sông, dữ liệu địa hình và các thông tin liên quan khác. Việc này hỗ trợ việc lập quy hoạch thủy lợi chính xác hơn, theo dõi biến động tài nguyên nước và đánh giá tác động thủy lợi của các dự án.

IoT có thể cách mạng hóa vận hành công trình thủy lợi bằng cách triển khai các cảm biến thông minh để thu thập dữ liệu thời gian thực về mực nước, lưu lượng, chất lượng nước, và tình trạng kết cấu công trình. Dữ liệu này được truyền về trung tâm điều hành, cho phép giám sát từ xa, dự báo sớm các nguy cơ như hạn hán Đắk Lắk hoặc lũ lụt, và tự động điều tiết cửa van, trạm bơm. Việc ứng dụng các kỹ thuật thủy lợi hiện đại này sẽ nâng cao năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu, tối ưu hóa tưới tiêu nông nghiệp và cải thiện đáng kể hiệu quả quản lý thủy lợi tổng thể.

4.2. Quy hoạch thủy lợi tổng thể và quản lý tổng hợp tài nguyên nước

Một cách tiếp cận toàn diện cho quản lý công trình thủy lợi Đắk Lắk là phát triển quy hoạch thủy lợi tổng thể và áp dụng phương pháp quản lý tổng hợp tài nguyên nước. Luận văn của Nguyễn Phương Huyền (2021) đã đề cập đến các quyết định phê duyệt quy hoạch phát triển thủy lợi tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2010-2015 và định hướng đến 2020 (QĐ số 3473/QĐ-UBND) cũng như Quy hoạch tổng thể thủy lợi vùng Tây Nguyên đến 2030, định hướng đến 2050 (QĐ số 4325/QĐ-BNN-TCTL). Các quy hoạch này cần được tiếp tục rà soát, cập nhật dựa trên dự báo về biến đổi khí hậu và nhu cầu phát triển mới.

Quản lý tổng hợp tài nguyên nước là một mô hình tiếp cận đa ngành, đa mục tiêu. Nó không chỉ xem xét nước cho tưới tiêu nông nghiệp mà còn cho sinh hoạt, công nghiệp, thủy điện, bảo tồn môi trường. Việc này giúp hài hòa lợi ích giữa các bên sử dụng nước, tối ưu hóa sử dụng nguồn tài nguyên nước Đắk Lắk khan hiếm, đặc biệt trong bối cảnh hạn hán Đắk Lắk thường xuyên xảy ra. Bằng cách tích hợp các yếu tố kinh tế, xã hội, môi trường và chính sách, mô hình này sẽ đảm bảo an ninh nguồn nước Đắk Lắk và thúc đẩy phát triển thủy lợi bền vững.

V. Tổng kết Nghiên cứu Luận Văn về Quản lý Thủy lợi Đắk Lắk 2021

Luận văn "Quản lý nhà nước về khai thác và bảo vệ các công trình thủy lợi lớn và vừa trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk" của Nguyễn Phương Huyền (2021) là một nghiên cứu khoa học thủy lợi chuyên sâu, cung cấp những tổng kết và khuyến nghị giá trị cho công tác quản lý công trình thủy lợi Đắk Lắk. Nghiên cứu này không chỉ hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với công trình thủy lợi mà còn đi sâu đánh giá tác động thủy lợi của các chính sách và thực trạng triển khai tại địa phương trong giai đoạn 2018 đến nay. Các phát hiện của luận văn là nền tảng quan trọng để chính quyền địa phương tham khảo, hoạch định kế hoạch quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi Đắk Lắk, phục vụ sự nghiệp phát triển bền vững.

Nghiên cứu đã làm rõ những thuận lợi và khó khăn trong quản lý công trình thủy lợi Đắk Lắk. Thuận lợi bao gồm tiềm năng tài nguyên nước Đắk Lắk dồi dào và sự quan tâm của Chính phủ, Bộ NN&PTNT thông qua các dự án đầu tư lớn. Khó khăn nổi bật là tình trạng công trình xuống cấp, hư hỏng do tuổi thọ cao và thiếu kinh phí bảo trì. Đặc biệt, biến đổi khí hậu ảnh hưởng thủy lợi ngày càng rõ nét với hạn hán Đắk Lắk và lũ lụt thường xuyên, đòi hỏi các giải pháp thích ứng khẩn cấp. Vấn đề nhận thức của người dân trong bảo vệ công trình thủy lợi còn hạn chế, dẫn đến nhiều hành vi xâm hại.

Luận văn cũng phân tích chi tiết thực trạng các hoạt động quản lý nhà nước, bao gồm công tác chỉ đạo, điều hành, xây dựng chiến lược, quy hoạch thủy lợi, và ban hành văn bản pháp luật. Mặc dù có nhiều nỗ lực, việc triển khai các quy định về pháp luật thủy lợi vẫn gặp vướng mắc về kinh phí để cắm mốc chỉ giới, lập quy trình vận hành công trình thủy lợi và kiểm định an toàn đập. Công ty TNHH MTV Quản lý công trình thủy lợi Đắk Lắk được đánh giá là cơ bản đáp ứng được yêu cầu về năng lực, nhưng các tổ chức thủy lợi cơ sở còn nhiều hạn chế.

Từ những phân tích này, luận văn đã đưa ra các giải pháp quản lý thủy lợi cụ thể nhằm hoàn thiện công tác quản lý công trình thủy lợi Đắk Lắk. Các đề xuất bao gồm việc tăng cường nguồn lực tài chính, hoàn thiện hệ thống chính sách quản lý nước, nâng cao năng lực cán bộ, đẩy mạnh ứng dụng kỹ thuật thủy lợi hiện đại và tăng cường sự tham gia của cộng đồng. Những kết quả nghiên cứu luận văn này cung cấp cơ sở khoa học vững chắc để Đắk Lắk phát triển một hệ thống thủy lợi Đắk Lắk hiệu quả, thích ứng và bền vững trong tương lai.

5.1. Đánh giá tác động thủy lợi và những thành tựu ban đầu

Luận văn của Nguyễn Phương Huyền (2021) đã cung cấp một cái nhìn toàn diện về đánh giá tác động thủy lợi từ các hoạt động quản lý tại Đắk Lắk. Về thành tựu, tỉnh đã được sự quan tâm của Chính phủ và Bộ NN&PTNT, đầu tư xây dựng và nâng cấp nhiều công trình thủy lợi lớn, góp phần quan trọng vào việc xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế - xã hội. Sự ra đời của Luật Thủy lợi 2017 và các văn bản hướng dẫn đã tạo hành lang pháp luật thủy lợi tương đối hoàn chỉnh, làm cơ sở cho công tác quản lý công trình thủy lợi Đắk Lắk.

Các quy hoạch thủy lợi và kế hoạch hành động đã được ban hành (như QĐ 3473/QĐ-UBND, QĐ 2325/QĐ-UBND) định hướng rõ ràng cho phát triển thủy lợi bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu và tái cơ cấu nông nghiệp. Công tác thành lập và củng cố tổ chức thủy lợi cơ sở cũng đã được triển khai, cùng với việc Công ty TNHH MTV Quản lý công trình thủy lợi Đắk Lắk cơ bản đáp ứng yêu cầu năng lực. Những nỗ lực này đã góp phần nâng cao khả năng chủ động cấp nước cho tưới tiêu nông nghiệp và giảm thiểu tác động của hạn hán Đắk Lắk, mặc dù vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục.

5.2. Các đề xuất phát triển thủy lợi bền vững từ luận văn

Để thúc đẩy phát triển thủy lợi bền vững tại Đắk Lắk, luận văn của Nguyễn Phương Huyền (2021) đã đề xuất nhiều giải pháp quản lý thủy lợi trọng tâm. Các đề xuất này xoay quanh việc hoàn thiện khung pháp luật thủy lợi, cụ thể là tháo gỡ vướng mắc về kinh phí để thực hiện cắm mốc chỉ giới, lập quy trình vận hành công trình thủy lợi và kiểm định an toàn đập. Cần rà soát và điều chỉnh các định mức kinh tế kỹ thuật, đồng thời tăng cường các biện pháp chế tài xử phạt hành vi xâm hại công trình thủy lợi.

Bên cạnh đó, luận văn nhấn mạnh sự cần thiết của việc nâng cao năng lực cán bộ thông qua đào tạo chuyên sâu về kỹ thuật thủy lợi hiện đạiquản lý tổng hợp tài nguyên nước. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ như GIS, IoT trong giám sát và điều hành là giải pháp quan trọng để tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên nước Đắk Lắk và ứng phó với biến đổi khí hậu. Cuối cùng, tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cộng đồng về vai trò của hệ thống thủy lợi Đắk Lắk và khuyến khích sự tham gia của người dân vào công tác bảo vệ, khai thác hiệu quả công trình thủy lợi là yếu tố cốt lõi cho sự phát triển lâu dài.

VI. Tương lai nào cho An ninh Nguồn Nước Đắk Lắk đến năm 2030

Hướng tới năm 2030, an ninh nguồn nước Đắk Lắk sẽ trở thành một ưu tiên chiến lược, đòi hỏi sự tiếp tục hoàn thiện và đổi mới trong quản lý công trình thủy lợi Đắk Lắk. Luận văn của Nguyễn Phương Huyền (2021) đã đặt ra những định hướng quan trọng, làm cơ sở cho các kế hoạch phát triển dài hạn nhằm đảm bảo phát triển thủy lợi bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu ảnh hưởng thủy lợi ngày càng gay gắt. Tương lai của hệ thống thủy lợi Đắk Lắk sẽ phụ thuộc vào khả năng thích ứng, ứng dụng công nghệ và sự đồng bộ trong các chính sách quản lý nước.

Để đạt được mục tiêu an ninh nguồn nước Đắk Lắk, tỉnh cần tập trung vào việc củng cố toàn diện cơ sở hạ tầng thủy lợi, không chỉ sửa chữa mà còn nâng cấp và xây mới các công trình thủy lợi theo tiêu chuẩn hiện đại. Việc này phải đi đôi với việc thiết lập một hệ thống giám sát và điều hành thông minh, ứng dụng kỹ thuật thủy lợi hiện đại như GIS và IoT để tối ưu hóa vận hành công trình thủy lợi, đặc biệt trong việc điều tiết nước ứng phó với hạn hán Đắk Lắk và lũ lụt. Mục tiêu là đảm bảo nguồn nước ổn định cho tưới tiêu nông nghiệp, sinh hoạt và các ngành kinh tế khác, giảm thiểu thất thoát và lãng phí.

Chiến lược phát triển cần nhấn mạnh phương pháp quản lý tổng hợp tài nguyên nước, coi nước là một thể thống nhất từ thượng nguồn đến hạ nguồn, bao gồm cả nước mặt và nước ngầm. Điều này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các sở, ban, ngành và địa phương trong việc lập quy hoạch thủy lợi và thực thi pháp luật thủy lợi. Các giải pháp quản lý thủy lợi phải tích hợp các yếu tố kinh tế, xã hội, môi trường để đảm bảo lợi ích hài hòa cho tất cả các bên liên quan. Nâng cao nhận thức và khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong việc bảo vệ công trình thủy lợi là yếu tố cốt lõi để duy trì hiệu quả lâu dài của hệ thống.

Tầm nhìn đến năm 2030 cho quản lý công trình thủy lợi Đắk Lắk là xây dựng một hệ thống thủy lợi Đắk Lắk hiện đại, linh hoạt, có khả năng phục hồi cao, đáp ứng được các yêu cầu của nền nông nghiệp tái cơ cấu và phát triển kinh tế - xã hội bền vững của Tây Nguyên. Điều này không chỉ là một thách thức mà còn là cơ hội để Đắk Lắk trở thành hình mẫu về quản lý tài nguyên nước Đắk Lắk hiệu quả trong khu vực.

6.1. Định hướng chiến lược tưới tiêu nông nghiệp và phát triển bền vững

Định hướng chiến lược cho tưới tiêu nông nghiệp tại Đắk Lắk đến năm 2030 cần tập trung vào việc chuyển đổi từ các phương pháp truyền thống sang kỹ thuật thủy lợi hiện đại và tiết kiệm nước. Mục tiêu là tăng cường hiệu suất sử dụng tài nguyên nước Đắk Lắk trong bối cảnh hạn hán Đắk Lắk thường xuyên. Luận văn của Nguyễn Phương Huyền (2021) đã đề cập đến sự cần thiết của việc tái cơ cấu ngành nông nghiệp, ưu tiên ứng dụng khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao vào sản xuất (QĐ số 2325/QĐ-UBND).

Các giải pháp bao gồm khuyến khích người dân đầu tư vào các hệ thống tưới tiên tiến, tiết kiệm nước cho cây trồng cạn, như cà phê, hồ tiêu, cây ăn quả, thông qua các chính sách hỗ trợ phù hợp (ví dụ: NQ số 13/2020/NQ-HĐND). Việc này không chỉ giảm áp lực lên nguồn nước mà còn nâng cao năng suất và giá trị sản phẩm nông nghiệp. Đồng thời, cần điều chỉnh quy hoạch thủy lợi để tối ưu hóa việc cung cấp nước cho các vùng sản xuất trọng điểm, đảm bảo an ninh nguồn nước Đắk Lắk và góp phần vào phát triển thủy lợi bền vững của tỉnh.

6.2. Triển vọng và tầm nhìn cho hệ thống thủy lợi Đắk Lắk

Triển vọng cho hệ thống thủy lợi Đắk Lắk đến năm 2030 là xây dựng một hạ tầng hiện đại, linh hoạt và có khả năng chống chịu tốt hơn trước các tác động của biến đổi khí hậu. Tầm nhìn này dựa trên các nghiên cứu khoa học thủy lợi và định hướng chiến lược đã được đề ra trong các văn bản của Bộ NN&PTNT và UBND tỉnh, bao gồm Quy hoạch tổng thể thủy lợi vùng Tây Nguyên giai đoạn đến năm 2030, định hướng đến năm 2050 (QĐ số 4325/QĐ-BNN-TCTL).

Để hiện thực hóa tầm nhìn này, cần tiếp tục đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng thủy lợi, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng kỹ thuật thủy lợi hiện đại vào công tác vận hành công trình thủy lợi. Việc hoàn thiện pháp luật thủy lợi và tăng cường năng lực cho các tổ chức quản lý công trình thủy lợi Đắk Lắk sẽ là nền tảng vững chắc. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng một hệ thống thủy lợi Đắk Lắk không chỉ đáp ứng nhu cầu tưới tiêu nông nghiệp và sinh hoạt mà còn đóng vai trò then chốt trong bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai và đảm bảo an ninh nguồn nước Đắk Lắk lâu dài cho sự phát triển bền vững của toàn tỉnh.

27/09/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý nhà nước về khai thác và bảo vệ các công trình thủy lợi lớn và vừa trên địa bàn tỉnh đắk lắk

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, kết cấu của đề tài gồm có ba chương: 6 Chƣơng 1: Cơ sở khoa học Quản lý nhà nước về khai thác và bảo vệ các Công trình thủy lợi Chƣơng 2: Thực trạng Quản lý nhà nước về khai thác và bảo vệ các Công trình thủy lợi lớn và vừa trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Chƣơng 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện Quản lý nhà nước về khai thác và bảo vệ các Công trình thủy lợi lớn và vừa trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 1. Lý luận về khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi 1.

Công trình thủy lợi 1.1 Khái niệm Thủy lợi Thủy lợi là tổng hợp các giải pháp nhằm tích trữ, điều hòa, chuyển, phân phối, cấp, tưới, tiêu và thoát nước phục vụ SX nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, SX muối; kết hợp cấp, tiêu, thoát nước cho sinh hoạt và các ngành kinh tế khác; góp phần PCTT, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo đảm an ninh nguồn nước [18] 1.2 Khái niệm Công trình thủy lợi CTTL là công trình hạ tầng kỹ thuật thủy lợi bao gồm đập, hồ chứa nước, cống, trạm bơm, hệ thống dẫn, chuyển nước, kè, bờ bao thủy lợi và công trình khác phục vụ quản lý, khai thác thủy lợi [18].3 Khái niệm về Công trình thủy lợi lớn và vừa Với phạm vi nghiên cứu của Đề tài, đối tượng nghiên cứu nằm trong phạm vi tỉnh Đắk Lắk, do đó tác giả xin trích các khái niệm liên quan gồm các tên gọi các CTTL hiện đã và đang được quản lý khai thác trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk (bao gồm Đập, Hồ chứa nước, Trạm bơm), cụ thể theo định nghĩa tại Điều 4, NĐ 67/2018/NĐ-CP ngày 14/5/2018 của Chính phủ về quy định chi tiết một số Điều của Luật Thủy lợi, tác giả xin tổng hợp như sau: 8 lưu vực nhỏ lại là khu canh tác cây công nghiệp nên hầu hết lòng hồ hiện tượng bồi lắng diễn ra rất nhanh và gây nên tình trạng hạn hán cung như tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn do mưa lũ. Mặt khác do rừng phòng hộ đầu nguồn ngày càng cạn kiện, thảm phủ thực vật trong lưu vực thay đổi mạnh do tình trạng chuyển đổi từ rừng tự nhiên sang trồng cây công nghiệp do đó tình trạng lũ lụt lòng hồ về mùa mưa lũ và hạn hán về mùa kiệt thường xuyên xảy ra, qua công tác điều tra chúng tôi thấy hầu như các hồ đều xảy ra tình trạng hán hán với các mức độ khác nhau. Đập đất: nhìn chung các đập đất có chiều cao thấp và có một số công trình đã được sửa chữa nâng cấp, tuy nhiên số lượng còn rất ít. Còn lại chủ yếu là đã biểu hiện xuống cấp ở nhiều cấp độ khác nhau, cụ thể: - Mái thượng lưu: Chủ yếu là mái đất, được bảo vệ bằng trồng cỏ nhưng nay cây dại đã mọc um tùm, do tác động của mực nước hồ hầu hết mái thượng lưu đã bị biến dạng: xói lở, xô lệch,.

Rất nhiều đập mái thượng lưu bị xói thẳng đứng - Mái hạ lưu: hiện tượng thấm nhiều, thấm mạnh, cây cỏ mọc dày đặc, thậm chí có rất nhiều cây có đường kính phổ biến từ 10cm - 20cm (cá biệt nhiều cây đường kính khoảng 30cm – 40cm). Hầu hết chân mái đập và vùng phụ cận bảo vệ công trình bị nhân dân lấn chiếm trồng cây công nghiệp như Cà phê, tiêu, hoặc đào ao nuôi cá … đe doạ đến ổn định mái hạ lưu cũng như tổng thể công trình. - Đỉnh đập: Chủ yếu là bằng đất, một số đỉnh đập kết hợp giao thông nên bị xói lở, lồi lõm thành nhiều ổ gà đi lại rất khó khăn và xuống cấp nhanh chóng. 29 - Đánh giá an toàn lũ: Một số đập trong quá trình khai thác, vận hành đã từng bị nước lũ tràn qua đỉnh đập, hoặc mấp mé đỉnh đập (huyện Ea H’leo, Krông Năng) gây nguy hiểm đến an toàn đập.

Hầu hết các công trình đều được xây dựng từ những năm 90 của thể ký trước tài liệu tính toán còn nhiều hạn chế. Trong điều kiện biến đổi khí hậu như hiện nay tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn cho các công trình đầu mối rất cao. - Tràn xả lũ: tràn xả lũ của các công trình chủ yếu là tràn tự do, qui mô tràn nhỏ. Hiện trạng hầu hết là tràn đất, một số tràn đã được gia cố bằng bê tông.

Các tràn đất cây cối mọc dày dặc, lòng tràn bị xói lở thành nhiều rãnh sâu, cửa vào các tràn một số công trình bị bồi lắng gây cản trở rất lớn đến khả năng thoát lũ. Các tràn bị hư hỏng nặng đến hư hỏng hoàn toàn bể tiêu năng và sân sau, có nhiều tràn xói sâu vào gần đến tim đập nguy cơ ngây mất an toàn đến công trình đầu mối trong mùa mưa lũ. Một số công trình có tràn xả lũ điều tiết bằng cửa van phẳng. Các cửa van còn tốt, thân tràn, dốc nước được gia cố bằng bê tông hoặc BTCT.

Hầu hết các công trình này mới được sửa chữa trong những năm gần đây nên chất lượng đảm bảo. Tuy nhiên Quy trình vận hành điều tiết thì chưa có công trình nào được lập. - Cống lấy nước và cống xả: Khoảng gần 60% công trình đều có cống lấy nước hoặc cống xả, chủ yếu là các cống tròn chảy có áp, có đường kính phổ biến từ 30cm – 40cm, điều tiết bằng van đĩa hạ lưu, có một số cống đóng mở bằng van phẳng thượng lưu. Do công tác quản lý vận hành chưa được khoa học nên hầu hết các cống đều bị rò rỉ nước, một số bị hỏng hoàn toàn phải sửa chữa cấp bách.

Các bộ phận cửa vào cửa ra hầu hết bị hư hỏng nặng, hầm chứa van bị ngập nước, tường bê tông bị gãy vỡ …. - Kênh và các công trình trên kênh: hệ thống kênh đã được kiên cố hoá tương đối nhiều nhưng công tác quản lý có nhiều hạn chế nên kênh bị hư 30 hỏng nhiều, bị bồi lắng, các thiết bị cơ khí hầu hết đã hư hỏng nhiều. Các kênh bằng đất hầu hết đã bị bồi lấp, xói lở, cây cỏ dại mọc um tùm, dày đặc. Hanh lang bảo vệ kênh bị lấn chiếm hoàn toàn.

Nhiều công trình không có kênh mà nước được cấp qua cống xả xuống lòng suối, được cấp lại vào ruộng nhờ các đập bổi. Hành lang công trình: hành lang công trình hầu như toàn bộ chưa được cắm mốc ranh giới bảo vệ công trình. Vì vậy vùng phụ cận bảo vệ công trình đã bị nhân dân lấn chiếm trồng cây, canh tác. Đặc biệt hạ lưu đập đất ở một số hồ bị nhân dân đào ao nuôi cá sát chân đập, một số hồ chứa nhân dân trồng cây lấy gỗ lên mái đập, làm nhà trong lòng hồ, trên đỉnh đập … Chính sự xâm hại này đe doạ nghiêm trọng đến an toàn cho công trình đặc biệt là vào mùa mưa lũ khi mực nước trong hồ đang ở MN cao nhất, điều này là nguyên nhân chính gây nên tình trạng xuống cấp nhanh chóng và nghiêm trọng của các công trình.

Công trình do Công ty TNHH MTV QLCT thủy lợi Đắk Lắk quản lý Tổng số công trình do các tổ chức này quản lý là 342 công trình các loại, trong đó có 43 công trình lớn, 146 công trình vừa và 153 công trình nhỏ. Hồ chứa: hiện nay, việc lấn chiếm hành lang bảo vệ công trình xảy ra khá phổ biến, nhiều công trình trước đây khi nâng cấp chủ đầu tư chưa đền bù thỏa đáng cho người dân nên khi tích nước đã xảy ra kiện cáo, rất khó khăn cho công ty trong việc điều tiết nước. Nhiều công trình địa phương đã cấp quyền sở hữu đất vào cả lòng hồ. Việc cắm mốc ranh giới bảo vệ công trình vẫn chưa thực hiện được do không có kinh phí.

Rất nhiều hồ chứa nhỏ phục vụ tưới cho cây công nghiệp đã vượt quá khả năng thiết kế do diện tích cây cà phê phát triển quá nhanh, một mặt do lượng nước ngầm ngày càng giảm đã làm ảnh hưởng rất lớn đến khả năng phục vụ của công trình. Chính vì vậy rất 31 nhiều công trình mặc dù đạt mực nước thiết kế song vẫn thiếu nước vào cuối vụ. Đập đất: từ khi tiếp nhận công trình, công ty đã tổ chức phát dọn, đặc biệt là các công trình đầu mối, tuy nhiên đến nay vẫn còn một số công trình người dân trồng cây trên mái đập vẫn chưa xử lý được. Nhiều công trình mái thượng còn chưa được gia cố nên bị sạt lở nghiệm trọng, hiện tượng thấm qua thân đập xảy ra nhiều ở một số công trình, mặt đập kết hợp làm đường giao thông cũng không được gia cố nên rất nhiều công trình bị hư hỏng, xuống cấp ảnh hưởng lớn đến đi lại cũng như an toàn của công trình Đập dâng: rất nhiều đập dâng do trước đây hầu hết được xây dựng bằng đá xây, sau một thời gian sử dụng đã bị xuống cấp, hiện tượng thấm và rò rỉ nước ở hai bên tường và đáy xảy ra khá phổ biến.

Hệ thống kênh mương do công ty quản lý, thì phần kênh chính cơ bản đã được bê tông hóa, tuy nhiên phần kênh nhánh và kênh mương nội đồng hầu hết còn là kênh đất, các công trình trên kênh thì bị hư hỏng nhiều, đặc biệt là các thiết bị đóng mở bị mất cắp, một số người dân phá để lấy nước, gây không ít khó khăn cho công tác quản lý, điều tiết nước, đặc biệt là những năm hạn hán. Diện tích tưới, tiêu, quy mô số lượng công trình thủy lợi vừa và lớn trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk Tổng số CTTL vừa và lớn trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk là 303 công trình, với tổng trữ lượng nước khoảng 579.000 m3 nước, đảm bảo tưới cho gần 73.000 ha cây trồng các loại. Trong đó: CTTL lớn: 64 công trình, tổng trữ lượng nước khoảng 467.000 m3 nước, đảm bảo tưới cho hơn 44.000 ha cây trồng các loại; CTTL vừa: 239 công trình, tổng trữ lượng nước khoảng 112.000 m3 nước, đảm bảo tưới cho hơn 28.000 ha cây trồng các loại 32 Bảng 2. Danh mục công trình thủy lợi lớn và vừa được phân cấp quản lý Năng lực tƣới thực tế (ha) Tổng TT Tên hồ chứa số công Cây Hoa trình Lúa công màu và Tổng nghiệp cây khác A Công trình thủy lợi lớn 64 28,402 14,455 1,386 44,243 Công ty TNHH MTV QLCT I 43 26,477 9,362 1,266 37,105 Thủy lợi Đắk Lắk quản lý II Các tổ chức khác quản lý 21 1,925 5,093 120 7,138 2.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ