phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, kết cấu của đề tài gồm có ba chương: 6 Chƣơng 1: Cơ sở khoa học Quản lý nhà nước về khai thác và bảo vệ các Công trình thủy lợi Chƣơng 2: Thực trạng Quản lý nhà nước về khai thác và bảo vệ các Công trình thủy lợi lớn và vừa trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Chƣơng 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện Quản lý nhà nước về khai thác và bảo vệ các Công trình thủy lợi lớn và vừa trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 1. Lý luận về khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi 1.
Công trình thủy lợi 1.1 Khái niệm Thủy lợi Thủy lợi là tổng hợp các giải pháp nhằm tích trữ, điều hòa, chuyển, phân phối, cấp, tưới, tiêu và thoát nước phục vụ SX nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, SX muối; kết hợp cấp, tiêu, thoát nước cho sinh hoạt và các ngành kinh tế khác; góp phần PCTT, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo đảm an ninh nguồn nước [18] 1.2 Khái niệm Công trình thủy lợi CTTL là công trình hạ tầng kỹ thuật thủy lợi bao gồm đập, hồ chứa nước, cống, trạm bơm, hệ thống dẫn, chuyển nước, kè, bờ bao thủy lợi và công trình khác phục vụ quản lý, khai thác thủy lợi [18].3 Khái niệm về Công trình thủy lợi lớn và vừa Với phạm vi nghiên cứu của Đề tài, đối tượng nghiên cứu nằm trong phạm vi tỉnh Đắk Lắk, do đó tác giả xin trích các khái niệm liên quan gồm các tên gọi các CTTL hiện đã và đang được quản lý khai thác trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk (bao gồm Đập, Hồ chứa nước, Trạm bơm), cụ thể theo định nghĩa tại Điều 4, NĐ 67/2018/NĐ-CP ngày 14/5/2018 của Chính phủ về quy định chi tiết một số Điều của Luật Thủy lợi, tác giả xin tổng hợp như sau: 8 lưu vực nhỏ lại là khu canh tác cây công nghiệp nên hầu hết lòng hồ hiện tượng bồi lắng diễn ra rất nhanh và gây nên tình trạng hạn hán cung như tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn do mưa lũ. Mặt khác do rừng phòng hộ đầu nguồn ngày càng cạn kiện, thảm phủ thực vật trong lưu vực thay đổi mạnh do tình trạng chuyển đổi từ rừng tự nhiên sang trồng cây công nghiệp do đó tình trạng lũ lụt lòng hồ về mùa mưa lũ và hạn hán về mùa kiệt thường xuyên xảy ra, qua công tác điều tra chúng tôi thấy hầu như các hồ đều xảy ra tình trạng hán hán với các mức độ khác nhau. Đập đất: nhìn chung các đập đất có chiều cao thấp và có một số công trình đã được sửa chữa nâng cấp, tuy nhiên số lượng còn rất ít. Còn lại chủ yếu là đã biểu hiện xuống cấp ở nhiều cấp độ khác nhau, cụ thể: - Mái thượng lưu: Chủ yếu là mái đất, được bảo vệ bằng trồng cỏ nhưng nay cây dại đã mọc um tùm, do tác động của mực nước hồ hầu hết mái thượng lưu đã bị biến dạng: xói lở, xô lệch,.
Rất nhiều đập mái thượng lưu bị xói thẳng đứng - Mái hạ lưu: hiện tượng thấm nhiều, thấm mạnh, cây cỏ mọc dày đặc, thậm chí có rất nhiều cây có đường kính phổ biến từ 10cm - 20cm (cá biệt nhiều cây đường kính khoảng 30cm – 40cm). Hầu hết chân mái đập và vùng phụ cận bảo vệ công trình bị nhân dân lấn chiếm trồng cây công nghiệp như Cà phê, tiêu, hoặc đào ao nuôi cá … đe doạ đến ổn định mái hạ lưu cũng như tổng thể công trình. - Đỉnh đập: Chủ yếu là bằng đất, một số đỉnh đập kết hợp giao thông nên bị xói lở, lồi lõm thành nhiều ổ gà đi lại rất khó khăn và xuống cấp nhanh chóng. 29 - Đánh giá an toàn lũ: Một số đập trong quá trình khai thác, vận hành đã từng bị nước lũ tràn qua đỉnh đập, hoặc mấp mé đỉnh đập (huyện Ea H’leo, Krông Năng) gây nguy hiểm đến an toàn đập.
Hầu hết các công trình đều được xây dựng từ những năm 90 của thể ký trước tài liệu tính toán còn nhiều hạn chế. Trong điều kiện biến đổi khí hậu như hiện nay tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn cho các công trình đầu mối rất cao. - Tràn xả lũ: tràn xả lũ của các công trình chủ yếu là tràn tự do, qui mô tràn nhỏ. Hiện trạng hầu hết là tràn đất, một số tràn đã được gia cố bằng bê tông.
Các tràn đất cây cối mọc dày dặc, lòng tràn bị xói lở thành nhiều rãnh sâu, cửa vào các tràn một số công trình bị bồi lắng gây cản trở rất lớn đến khả năng thoát lũ. Các tràn bị hư hỏng nặng đến hư hỏng hoàn toàn bể tiêu năng và sân sau, có nhiều tràn xói sâu vào gần đến tim đập nguy cơ ngây mất an toàn đến công trình đầu mối trong mùa mưa lũ. Một số công trình có tràn xả lũ điều tiết bằng cửa van phẳng. Các cửa van còn tốt, thân tràn, dốc nước được gia cố bằng bê tông hoặc BTCT.
Hầu hết các công trình này mới được sửa chữa trong những năm gần đây nên chất lượng đảm bảo. Tuy nhiên Quy trình vận hành điều tiết thì chưa có công trình nào được lập. - Cống lấy nước và cống xả: Khoảng gần 60% công trình đều có cống lấy nước hoặc cống xả, chủ yếu là các cống tròn chảy có áp, có đường kính phổ biến từ 30cm – 40cm, điều tiết bằng van đĩa hạ lưu, có một số cống đóng mở bằng van phẳng thượng lưu. Do công tác quản lý vận hành chưa được khoa học nên hầu hết các cống đều bị rò rỉ nước, một số bị hỏng hoàn toàn phải sửa chữa cấp bách.
Các bộ phận cửa vào cửa ra hầu hết bị hư hỏng nặng, hầm chứa van bị ngập nước, tường bê tông bị gãy vỡ …. - Kênh và các công trình trên kênh: hệ thống kênh đã được kiên cố hoá tương đối nhiều nhưng công tác quản lý có nhiều hạn chế nên kênh bị hư 30 hỏng nhiều, bị bồi lắng, các thiết bị cơ khí hầu hết đã hư hỏng nhiều. Các kênh bằng đất hầu hết đã bị bồi lấp, xói lở, cây cỏ dại mọc um tùm, dày đặc. Hanh lang bảo vệ kênh bị lấn chiếm hoàn toàn.
Nhiều công trình không có kênh mà nước được cấp qua cống xả xuống lòng suối, được cấp lại vào ruộng nhờ các đập bổi. Hành lang công trình: hành lang công trình hầu như toàn bộ chưa được cắm mốc ranh giới bảo vệ công trình. Vì vậy vùng phụ cận bảo vệ công trình đã bị nhân dân lấn chiếm trồng cây, canh tác. Đặc biệt hạ lưu đập đất ở một số hồ bị nhân dân đào ao nuôi cá sát chân đập, một số hồ chứa nhân dân trồng cây lấy gỗ lên mái đập, làm nhà trong lòng hồ, trên đỉnh đập … Chính sự xâm hại này đe doạ nghiêm trọng đến an toàn cho công trình đặc biệt là vào mùa mưa lũ khi mực nước trong hồ đang ở MN cao nhất, điều này là nguyên nhân chính gây nên tình trạng xuống cấp nhanh chóng và nghiêm trọng của các công trình.
Công trình do Công ty TNHH MTV QLCT thủy lợi Đắk Lắk quản lý Tổng số công trình do các tổ chức này quản lý là 342 công trình các loại, trong đó có 43 công trình lớn, 146 công trình vừa và 153 công trình nhỏ. Hồ chứa: hiện nay, việc lấn chiếm hành lang bảo vệ công trình xảy ra khá phổ biến, nhiều công trình trước đây khi nâng cấp chủ đầu tư chưa đền bù thỏa đáng cho người dân nên khi tích nước đã xảy ra kiện cáo, rất khó khăn cho công ty trong việc điều tiết nước. Nhiều công trình địa phương đã cấp quyền sở hữu đất vào cả lòng hồ. Việc cắm mốc ranh giới bảo vệ công trình vẫn chưa thực hiện được do không có kinh phí.
Rất nhiều hồ chứa nhỏ phục vụ tưới cho cây công nghiệp đã vượt quá khả năng thiết kế do diện tích cây cà phê phát triển quá nhanh, một mặt do lượng nước ngầm ngày càng giảm đã làm ảnh hưởng rất lớn đến khả năng phục vụ của công trình. Chính vì vậy rất 31 nhiều công trình mặc dù đạt mực nước thiết kế song vẫn thiếu nước vào cuối vụ. Đập đất: từ khi tiếp nhận công trình, công ty đã tổ chức phát dọn, đặc biệt là các công trình đầu mối, tuy nhiên đến nay vẫn còn một số công trình người dân trồng cây trên mái đập vẫn chưa xử lý được. Nhiều công trình mái thượng còn chưa được gia cố nên bị sạt lở nghiệm trọng, hiện tượng thấm qua thân đập xảy ra nhiều ở một số công trình, mặt đập kết hợp làm đường giao thông cũng không được gia cố nên rất nhiều công trình bị hư hỏng, xuống cấp ảnh hưởng lớn đến đi lại cũng như an toàn của công trình Đập dâng: rất nhiều đập dâng do trước đây hầu hết được xây dựng bằng đá xây, sau một thời gian sử dụng đã bị xuống cấp, hiện tượng thấm và rò rỉ nước ở hai bên tường và đáy xảy ra khá phổ biến.
Hệ thống kênh mương do công ty quản lý, thì phần kênh chính cơ bản đã được bê tông hóa, tuy nhiên phần kênh nhánh và kênh mương nội đồng hầu hết còn là kênh đất, các công trình trên kênh thì bị hư hỏng nhiều, đặc biệt là các thiết bị đóng mở bị mất cắp, một số người dân phá để lấy nước, gây không ít khó khăn cho công tác quản lý, điều tiết nước, đặc biệt là những năm hạn hán. Diện tích tưới, tiêu, quy mô số lượng công trình thủy lợi vừa và lớn trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk Tổng số CTTL vừa và lớn trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk là 303 công trình, với tổng trữ lượng nước khoảng 579.000 m3 nước, đảm bảo tưới cho gần 73.000 ha cây trồng các loại. Trong đó: CTTL lớn: 64 công trình, tổng trữ lượng nước khoảng 467.000 m3 nước, đảm bảo tưới cho hơn 44.000 ha cây trồng các loại; CTTL vừa: 239 công trình, tổng trữ lượng nước khoảng 112.000 m3 nước, đảm bảo tưới cho hơn 28.000 ha cây trồng các loại 32 Bảng 2. Danh mục công trình thủy lợi lớn và vừa được phân cấp quản lý Năng lực tƣới thực tế (ha) Tổng TT Tên hồ chứa số công Cây Hoa trình Lúa công màu và Tổng nghiệp cây khác A Công trình thủy lợi lớn 64 28,402 14,455 1,386 44,243 Công ty TNHH MTV QLCT I 43 26,477 9,362 1,266 37,105 Thủy lợi Đắk Lắk quản lý II Các tổ chức khác quản lý 21 1,925 5,093 120 7,138 2.