CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC SINH VIÊN TRONG CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Trên thế giới, cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu về quản lý công tác sinh viên (CTSV) một cách có hệ thống, nhất là ở một số nước như Anh, Mỹ, Trung Quốc. Trong đó, tiêu biểu nhất là các nghiên cứu và các tác giả dưới đây: - Nghiên cứu của tác giả người Mỹ William L.
Deegan (năm 1981) trong cuốn “Managing student affairs programs: methods, models, muddles” có thể được coi là một cuốn sách tiêu biểu về lý luận về quản lý CTSV, đề cập đến các phương pháp, mô hình và những khó khăn, bất cập của vấn đề. - Nghiên cứu của Ashley Tull và Linda Kuk (năm 2013) trong cuốn “New Realities in the Management of Student Affairs: Emerging Specialist Roles and Structures for Changing Times”, đề cập đến những vấn đề thực tế trong quản lý CTSV, trong đó nhấn mạnh đến cấu trúc tổ chức và vai trò của chuyên gia trong bối cảnh thay đổi. Theo tác giả, vấn đề quản lý CTSV cần phải thay đổi để đáp ứng yêu cầu hiện nay. - Nghiên cứu của Wang Zeng Guo (năm 2000) “Modern College Student Affairs Management theory and case studies” đã phân tích về quản lý hành chính trong CTSV, bắt đầu từ tìm hiểu những nhu cầu chính đáng của sinh viên (SV) đến giải quyết những vấn đề thực tế nảy sinh như là mục tiêu của quản lý.
- Nghiên cứu của Howard Wang đến từ Đại học bang California trong bài viết “An Introduction to Students Affairs in Higher Education in Selected Asian Countries”. Thông qua việc tổng kết những bài viết của các tác giả là những chuyên gia đến từ các trường đại học và cao đẳng của một số nước Châu Á như Singapore, Malaysia, Philippine, Hong Kong, Trung Quốc…, tác giả đã giới thiệu một bức tranh toàn cảnh về thực tiễn QLSV bậc đại học tại khu vực châu Á. - Nghiên cứu của nhóm tác giả (Najam Naqvi; Muhammad Abbas; Muhammad Zeeshan Fiaz; Muhammad Fareed; Adeel) đến từ Viện Công nghệ Không gian của Pakistan “Changing Roles in Student Affairs: A New 7 Landscape for Academia” (năm 2011) đề cập đến vai trò quản lý CTSV đang thay đổi như một phong cảnh mới của giới học thuật. Bài viết đã đề cập đến toàn bộ những nội dung của quản lý sinh viên (QLSV), nhấn mạnh đến QLSV như là tác nhân quan trọng cho phát triển năng lực cá nhân.
Nghiên cứu trong nước Có thể nói, kể từ năm 2005 trở lại đây, đã có khá nhiều nghiên cứu về quản lý CTSV ở các trường đại học, cao đẳng. Các nghiên cứu tiêu biểu gần đây được khái quát như sau: - Luận văn thạc sĩ của Lương Tuấn Long (2008): “Biện pháp hoàn thiện công tác quản lý sinh viên ở Viện Đại học Mở Hà Nội”. Đây là một nghiên cứu khá hệ thống về QLSV ở trường đại học. Luận văn đã đi sâu nghiên cứu hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn, làm rõ những nguyên tắc, nội dung, yêu cầu chủ yếu trong QLSV ở trường đại học.
Trên cơ sở đó, định hướng cho việc đánh giá, tìm hiểu thực trạng và đề ra giải pháp cho công tác QLSV cho Viện Đại học Mở Hà Nội. - Luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm Huyền Trang (2012): “Biện pháp quản lý sinh viên của Phòng Công tác học sinh sinh viên tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội”. Nghiên cứu đã đưa ra được một cơ sở lý luận về QLSV một cách có hệ thống. Tuy nhiên, do vấn đề nghiên cứu chỉ giới hạn ở biện pháp QLSV của đội ngũ cán bộ Phòng Công tác quản lý HSSV nên việc đề xuất mới chỉ dừng ở mức độ đưa ra những biện pháp có tính tác nghiệp mà chưa định hướng được giải pháp lâu dài, chiến lược cho toàn Trường.
- Luận văn thạc sĩ của Dương Minh Thu (2014): “Quản lý sinh viên nội trú ở Trường Cao đẳng Sư phạm Lạng Sơn”. Tuy đề tài chỉ giới hạn khách thể nghiên cứu là sinh viên nội trú, nhưng tác giả cũng đã tập trung nghiên cứu về vấn đề đạo đức lối sống của một bộ phận sinh viên bị ảnh hưởng từ những mặt trái của cơ chế thị trường hiện nay, từ đó đề xuất giải pháp cho những vấn đề tồn tại trong QLSV nội trú ở Trường Cao đẳng Sư phạm Lạng Sơn. - Luận văn thạc sĩ của Cao Xuân Tịnh (2014): “Biện pháp quản lý công tác sinh viên tại Trường Đại học Kiến trúc Đà Nẵng”. Đề tài đã tổng thuật được một số khái niệm liên quan, xác định những nội dung cơ bản và những yếu tố 8 ảnh hưởng đến công tác QLSV ở trường đại học, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLSV phù hợp với tình hình thực tế ở Trường Đại học Kiến trúc Đà Nẵng.
Nói tóm lại, cho tới nay có khá nhiều nghiên cứu trong nước nhưng hiện nay chưa có một đề tài nghiên cứu nào về quản lý CTSV và đặc biệt là hoạt động quản lý CTSV tại Đại học Quốc gia Hà Nội nói chung cũng như Trường Đại học Giáo dục nói riêng. Cơ sở lý luận về quản lý công tác sinh viên trong cơ sở giáo dục đại học 1. Một số khái niệm 1. Quản lý Khi nói đến khái niệm Quản lý thì chúng ta luôn gắn nó với khái niệm “tổ chức”.
Ngay từ khi xã hội loài người xuất hiện thì cũng hình thành hàng loạt những mối quan hệ: quan hệ giữa con người với thiên nhiên, quan hệ con người với xã hội, quan hệ con người với con người và mối quan hệ giữa con người với chính bản thân họ. Trong xã hội đó, con người phải liên kết lại với nhau thành một nhóm để cùng thực hiện những mục tiêu mà họ không thể thực hiện được với tư cách là một cá nhân riêng lẻ, để cùng tồn tại và phát triển. Có thể nói, tổ chức như là “một nhóm có cấu trúc nhất định những con người cùng hoạt động vì một mục đích chung nào đó, mà để đạt được mục đích đó, một con người riêng lẻ không thể nào đạt đến” [5, tr. Trong cấu trúc tổ chức cùng các mối quan hệ xã hội đó, có một số người có năng lực chi phối người khác, họ đóng vai trò như một người thủ lĩnh để quản lý nhóm, điều khiển hoạt động của nhóm sao cho phù hợp với mục tiêu chung.
Như vậy nhu cầu về quản lý đã nảy sinh như là một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân hướng tới mục tiêu chung của tổ chức [3, tr. Nói đến hoạt động quản lý, Các Mác đã từng nói: “ Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa sự hoạt động của cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của những khí quan độc lập của nó” [3, tr.Koontz thì “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được mục đích của tổ chức. Mục đích của mọi nhà quản lý là hình thành môi trường mà trong đó con người có thể đạt được mục đích của tổ chức” [9, tr. Một số nghiên cứu ở Việt Nam cũng đưa ra những khái niệm quản lý theo nhiều góc độ khác nhau.
Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Hoạt động quản lý là các tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”. Và như vậy, theo các tác giả này, thì “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [5, tr. Quản lý cũng được chứng minh vừa là khoa học vừa là nghệ thuật. Quản lý là khoa học vì nó là tri thức đã được hệ thống hóa, có đối tượng nghiên cứu khách quan, nó lý giải các mối quan hệ trong tổ chức (đặc biệt là mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý).
Quản lý là nghệ thuật bởi trong hàng loạt những mối quan hệ phức tạp đó, với những biến động không ngừng của tổ chức và của xã hội, thì đòi hỏi chủ thể quản lý phải rất linh hoạt, khéo léo trong việc sử dụng những tri thức đã được đúc kết, những kinh nghiệm quan sát được, nhằm tác động đến khách thể quản lý một các có hiệu quả nhất. Từ những định nghĩa về quản lý của các tác giả trong và ngoài nước, tuy có thể được diễn đạt theo nhiều cách dưới nhiều góc độ khác nhau, có thể coi Quản lý là việc chủ thể quản lý (người quản lý) tác động một cách có định hướng, có chủ đích lên khách thể quản lý (người bị quản lý) trong quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức, phù hợp với quy luật khách quan và khai thác tốt nhất những tiềm năng, cơ hội của khách thể quản lý và của chính tổ chức đó trong môi trường luôn biến động. Quản lý có bốn chức năng cơ bản, đó là: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra. - Chức năng kế hoạch hóa: đây là chức năng đầu tiên của quản lý, nó giúp tổ chức xác định được cách thức, biện pháp, con đường để đạt được mục 10 tiêu, mục đích phù hợp với sứ mệnh và thành tựu tương lai mà tổ chức đã đề ra.
Thực hiện chức năng kế hoạch hóa là thực hiện ba nội dung chủ yếu, đó là: (1) xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) của tổ chức; (2) xác định và đảm bảo về nguồn lực để thực hiện mục tiêu đó một cách chắc chắn; và (3) lựa chọn, quyết định những hoạt động cần thiết để đạt được các mục tiêu đã đề ra. - Chức năng tổ chức: là bước tiếp theo sau khi lập xong kế hoạch, nhằm hiện thực hóa kế hoạch đó. Xét về mặt chức năng quản lý, tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công kế hoạch từ đó đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức.