Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐẠT CHUẨN QUỐC GIA 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Tại một số nước phát triển trên thế giới, người ta đã sớm chú trọng tới việc ứng dụng CNTT bằng việc xây dựng những chương trình quốc gia về CNTT nhằm ứng dụng nó vào mọi mặt của đời sống xã hội trong đó có giáo dục và đào tạo. Những thành tựu phát triển kinh tế đạt được hiện nay có phần đóng góp hết sức to lớn của chương trình quốc gia này.
Có thể thấy ở một số quốc gia điển hình như sau: - Tại Mỹ và các nước châu Âu, những nghiên cứu quản lí ứng dụng CNTT trong giáo dục không còn là vấn đề mới mẻ. Chính vì vậy, ứng dụng CNTT trong quản lí giáo dục đã được sự ủng hộ của Chính phủ thông qua các chính sách trợ giúp ngay từ cuối những thập niên 90 của thế kỷ XX. Eamon Stack Chief Inspector cho rằng: Công nghệ thông tin và truyền thông đã mang lại những thay đổi sâu sắc cho hầu hết các khía cạnh của cuộc sống con người trong những năm gần đây. Những người trẻ tuổi sẽ sống cuộc sống đầy đủ trong một thế giới được biến đổi bởi CNTT, họ cần có cơ hội tiếp thu và phát triển và được đào tạo về kỹ năng CNTT từ khi còn nhỏ.
Từ cuối những năm 1990, CNTT cần được đầu tư đáng kể trong trường học, và trong đào tạo cho giáo viên và các chuyên gia khác. Tác giả cho rằng, cho đến nay, không có nhiều nghiên cứu quốc gia đã được công bố về tác động của các công nghệ mới đối với dạy và học. Công trình của tác giả Eamon Stack Chief Inspector xem xét mức độ mà CNTT-TT đã được sử dụng trong các trường học ở cả cấp tiểu học và sau tiểu học và quan trọng hơn là đánh giá tác động của CNTT đối với việc dạy và học, bao gồm cả cách thức sử dụng CNTT hỗ trợ việc học tập của học sinh có nhu cầu giáo dục đặc biệt. Đánh giá cho thấy rằng trong khi đã đạt được nhiều tiến bộ trong việc triển khai CNTT trong trường học, những thách thức đáng kể vẫn còn.
Báo cáo trình bày những phát hiện và khuyến nghị sẽ là của quan tâm đến giáo viên, hiệu trưởng, dịch vụ hỗ trợ trường học, nhà phát triển chương trình giảng dạy và các nhà hoạch định chính sách để thế hệ trẻ có Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn các kỹ năng, kiến thức và thái độ cần thiết để hưởng lợi từ các cơ hội do điều này mang lại công nghệ mạnh mẽ trong những năm tới [11]. - Tại Hàn Quốc: Xác định mục tiêu chiến lược của chính sách đẩy mạnh tin học hóa là xây dựng một xã hội thông tin phát triển vào năm 2000. - Tại Singapore: Năm 1981, Chính phủ Singapore thông qua đạo luật về tin học quốc gia, quy định ba nhiệm vụ: Một là, thực hiện việc tin học hóa mọi công việc hành chính và hoạt động của Chính phủ; Hai là, phối hợp giáo dục và đào tạo tin học; Ba là, phát triển và thúc đẩy công nghiệp dịch vụ tin học ở Singapo. Một ủy ban máy tính quốc gia được thành lập để quản lí công tác đó.
- Tại Australia: Khi nghiên cứu vấn đề thúc đẩy phát triển ứng dụng CNTT trong giáo dục và đào tạo, Giáo sư David Mousund, bộ phận quản lí và chính sách Trường Đại học Oregon Australia đã đưa ra các luận điểm: + Lĩnh vực ICT (Information Communication Technology) đang thay đổi nhanh chóng đến mức nó vượt quá khả năng cập nhật của đa số các nhà lãnh đạo khiến họ lo ngại. + Những tư tưởng chủ đạo cơ bản về sử dụng ICT trong giáo dục tuy đã thay đổi nhưng thay đổi rất chậm. Trong luận điểm của mình, Giáo sư David Mousund, bộ phận quản lí và chính sách Trường Đại học Oregon Australia đã chỉ ra vấn đề là cần phải thay đổi tư tưởng của nhà quản lí. Ông chỉ ra mâu thuẫn giữa ICT và tư tưởng của nhà quản lí.
Janelle Cox, Benefits of Technology in the Classroom, cho rằng: đi qua thế kỷ 21, công nghệ trong lớp học ngày càng chiếm ưu thế. Máy tính bảng đang thay thế sách giáo khoa của và con người có thể nghiên cứu bất cứ thứ gì họ muốn trên điện thoại thông minh của mình. Phương tiện truyền thông xã hội đã trở nên phổ biến và cách con người sử dụng công nghệ đã thay đổi hoàn toàn cách sống hoặc sống [21]. Các nhà giáo dục cũng đã thấy tận mắt những lợi ích của công nghệ trong lớp học.
Theo một nghiên cứu của Hiệp hội Thương mại CNTT CompTIA vừa công bố trong tháng này, khoảng 75 phần trăm các nhà giáo dục nghĩ rằng công nghệ có tác động tích cực trong quá trình giáo dục. Tác động mà công nghệ đã có đối với các trường học ngày nay là khá quan trọng. Việc áp dụng rộng rãi công nghệ này đã thay Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn đổi hoàn toàn cách giáo viên dạy và học sinh học. Giáo viên đang học cách dạy với các công nghệ mới nổi (máy tính bảng, iPad, Bảng thông minh, máy ảnh kỹ thuật số, máy tính), trong khi học sinh đang sử dụng công nghệ tiên tiến để định hình cách học.
Bằng cách nắm lấy và tích hợp công nghệ trong lớp học, có thể thiết lập cho học sinh một cuộc sống thành công bên ngoài trường học: Công nghệ trong lớp học giúp việc học trở nên thú vị hơn; Công nghệ thông tin giúp học sinh dễ dàng tương tác và kết nối với nhau… [28]. Có thể thấy rằng, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học đã được các tác giả nước ngoài quan tâm nghiên cứu ở các khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên, các tác giả mới chỉ nghiên cứu việc ứng dụng CNTT vào dạy học nói chung, chưa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu hiệu quả của việc ứng dụng thông tin trong dạy học ở tiểu học. Các nghiên cứu ở Việt Nam Do ý nghĩa, tầm quan trọng của CNTT đối với phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước nên Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương, chính sách hết sức quan trọng để đẩy mạnh việc ứng dụng, phát triển CNTT: Chỉ thị số 58/CT-TW của Bộ Chính trị ngày 17/10/2000 về đẩy mạnh và ứng dụng CNTT phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH nêu rõ: "Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác GD&ĐT ở các cấp học, bậc học, ngành học; phát triển các hình thức đào tạo từ xa phục vụ cho nhu cầu học tập của toàn xã hội.
Đặc biệt tập trung phát triển mạng máy tính phục vụ cho giáo dục và đào tạo, kết nối Internet tới tất cả các cơ sở GD&ĐT" [7]. Việc nghiên cứu ứng dụng CNTT vào quản lí GD đặc biệt là trong quản lí nhà trường đã được một số luận văn thạc sĩ, công trình khoa học nghiên cứu đề cập đến, chẳng hạn như: Tác giả Trần Kiểm, trong cuốn “Những vấn đề cơ bản của khoa học quản lý giáo dục” (2006) đã cũng cấp một số vấn đề cơ bản khoa học quản lý giáo dục trước xu thể phát triển hiện nay. Tác giả nhấn mạnh: Một trong bảy xu thế lớn của giáo dục thế giới trong thế kỷ XXI là: “Áp dụng rộng rãi CNTT- một hướng đổi mới giáo dục có hiệu quả”; vai trò của CNTT đã “Tác động của CNTT đối với lĩnh vực giáo dục đang tạo ra một cuộc cách mạng về giáo dục mở” [22]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Nhóm tác giả Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo trong cuốn: “Quản lý giáo dục” (2009) đã đề cập vấn đề QLGD cần ứng dụng công nghệ hiện đại để tăng hiệu quả quản lý, chỉ rõ một trong những phương tiện của công nghệ hiện đại là ứng dụng CNTT vào quản lý; đồng thời, các tác giả nhấn mạnh CNTT là công cụ của hệ thống thông tin, là “nền” của QLGD trong nhà trường.
Công cụ CNTT sẽ là phương tiện để xử lý, chọn lọc thông tin cho hoạt động quản lý và quản lý đào tạo trong nhà trường [15]. Những công trình nghiên cứu và luận văn thạc sĩ trên đã đề cập đến việc ứng dụng CNTT vào trong quản lí ở nhà trường, khẳng định ý nghĩa tầm quan trọng của ứng dụng CNTT trong quản lí và các tác giả cùng đề xuất được một số biện pháp cần thiết, khả thi nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT trong quản lí. Tuy nhiên, việc nghiên cứu mới chỉ dừng ở trong phạm vi một số trường tiểu học nói chung. Đặc biệt, chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào đề cập đến việc ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia tại một huyện miền núi như huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.
Vì thế, nghiên cứu đề tài này tác giả mong muốn đề xuất được những biện pháp nhằm tăng cường quản lí ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục các trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm Đã có nhiều tác giả đưa ra khái niệm quản lý theo những cách tiếp cận với các góc độ khác nhau: - Theo Frederick Winslow Taylor (1856 -1915) cho rằng: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” (dẫn theo [5]). Đây cũng là tư tưởng cơ bản của ông về quản lý và ông đã đề xuất thuyết quản lý khoa học dựa trên các luận điểm về chuyên môn hoá lao động, xây dựng tiêu chuẩn định mức trong lao động để làm cơ sở cho tuyển chọn, huấn luyện, phân công lao động; thực hiện chế độ trả lương theo sản phẩm.
- Theo Henry Fayol (1841-1925), là cha đẻ của thuyết quản lý hành chính quan niệm rằng: “Quản lý hành chính là dự báo và lập kế hoạch, tổ chức và điều khiển, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn phối hợp và kiểm tra” (dẫn theo [5]). Trong học thuyết quản lý của mình, ông đưa ra 5 chức năng cần thiết của một nhà quản lý: 1. Dự báo và lập kế hoạch. Tổ chức thực hiện.
- Theo Mary Parker Pollet (1868-1933) cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật khiến cho công việc được thực hiện thông qua người khác”.