Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý chương trình đào tạo liên kết do các trường đại học nước ngoài cấp bằng. Chương 2: Thực trạng công tác quản lý chương trình đào tạo liên kết do các trường nước ngoài cấp bằng tại Trường Đại học Quốc tế Bắc Hà. Chương 3: Giải pháp quản lý chương trình đào tạo liên kết do các trường nước ngoài cấp bằng tại Trường Đại học Quốc tế Bắc Hà. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ CHƢƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO LIÊN KẾT DO CÁC TRƢỜNG NƢỚC NGOÀI CẤP BẰNG 1.
Tổng quan lịch sử nghiên cứu Mặc dù là một khoa học non trẻ nhưng do nhu cầu thực tiễn nên khoa học về quản lý giáo dục nói chung và lý luận về quản lý chương trình nói riêng có sự phát triển nhanh, mạnh trong giai đoạn từ thế kỷ 18 đến nay. Theo đó, những công trình nghiên cứu về lĩnh vực này tương đối phong phú. Căn cứ vào mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu và giới hạn của đề tài luận văn, luận văn tập trung hệ thống, phân tích những vấn đề tiêu biểu liên quan trực tiếp tới quá trình quản lý chương trình đào tạo liên kết do các trường nước ngoài cấp bằng tại Trường Đại học Quốc tế Bắc Hà. Một số khái niệm công cụ 1.
Chương trình đào tạo 1. Khái niệm chương trình Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng, Nhà xuất bản Giáo dục – 1998, chương trình được giải nghĩa như sau: a, Là: “các mục, các vấn đề, các nhiệm vụ đề ra và được sắp xếp theo trình tự thực hiện trong một khoảng thời gian”. b, Là: “Nội dung kiến thức về một môn học (học phần) ấn định cho từng lớp, từng cấp, trong từng năm”. Chương trình đào tạo Theo từ điển Giáo dục học, Nhà xuất bản từ điển Bách khoa – 2001, khái niệm chương trình đào tạo được hiểu là: “Văn bản chính thức quy định mục đích, mục tiêu, yêu cầu, nội dung kiến thức và kỹ năng, cấu trúc tổng thể các bộ môn, kế hoạch lên lớp và thực hiện theo từng năm học, tỷ lệ giữa các bộ môn, giữa lý thuyết và thực hành, quy định phương thức, phương pháp, phương tiện, cơ sở vật chất, chứng chỉ và văn bằng tốt nghiệp của cơ sở giáo dục và đào tạo”.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo Tim Wentling, Raph Tyler và Kelly về chương trình đào tạo, đề xuất cách hiểu chương trình như sau: “Chương trình đào tạo là bản thiết kế tổng thể được trình bày một cách có hệ thống cho một hoạt động giáo dục, đào tạo của một khoá học trong một khoảng thời gian xác định, và thể hiện 4 yếu tố sau: Mục tiêu đào tạo được cụ thể hoá qua kết quả đào tạo (Learning outcomes) Nội dung cần đào tạo (các môn học) và thời lượng của chương trình và mỗi môn học Qui trình và các phương pháp triển khai thực hiện nội dung đào tạo đã được qui định trong chương trình để đạt được mục tiêu đào tạo. Phương thức kiểm tra – đánh giá kết quả đào tạo” Như vậy, chương trình đào tạo không chỉ phản ánh nội dung đào tạo mà là một văn bản hay bản thiết kế thể hiện tổng thể các thành phần của quá trình đào tạo, điều kiện, cách thức, quy trình tổ chức, đánh giá các hoạt động đào tạo để đạt được mục tiêu đào tạo. Chương trình đào tạo liên kết Chương trình đào tạo liên kết là bản thiết kế thể hiện tổng thể các thành phần của quá trình đào tạo, điều kiện, cách thức, quy trình tổ chức, đánh giá các hoạt động đào tạo để đạt được mục tiêu đào tạo do các bên hợp tác cùng đặt ra ban đầu. Chương trình đào tạo hợp tác là sợi dây vô hình gắn kết các cơ sở đào tạo trên khắp thế giới lại với nhau.
Các cơ sở đào tạo cùng hợp tác để hoàn thành sản phẩm là dịch vụ đào tạo. Trường quốc tế 1. Cơ sở đào tạo có hợp tác, đầu tư của nước ngoài Cơ sở đào tạo có hợp tác, đầu tư của nước ngoài là các cơ sở đào tạo có liên kết hợp tác với nước ngoài hoặc 100% vốn đầu tư của nước ngoài, hoạt động vì mục đích lợi nhuận hoặc không vì lợi nhuận. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục, các hình thức hợp tác, đầu tư của nước ngoài về giáo dục tại Việt Nam bao gồm: Thành lập cơ sở giáo dục; Liên kết đào tạo; Thành lập văn phòng đại diện; Các hình thức hợp tác khác.
Với các hình thức hợp tác, đầu tư được nêu trên, nên các cơ sở giáo dục đào tạo có hợp tác đầu tư của nước ngoài tương đối đa dạng. Trường quốc tế Trường quốc tế là cơ sở đào tạo có hợp tác, đầu tư của nước ngoài với những dấu hiệu cơ bản là: Sự đa quốc tịch của sinh viên; Đào tạo theo chương trình quốc tế (chương trình phải được công nhận quốc tế). Có ngôn ngữ chung để dạy cho sinh viên đa quốc tịch. Đội ngũ giảng viên giỏi về chuyên môn và phải sử dụng được ngôn ngữ chung để giảng dạy.
Điều kiện cơ sở vật chất của trường được trang bị theo tiêu chuẩn của nước đầu tư. Trường theo chuẩn quốc tế Trường theo chuẩn quốc tế là một trong những cơ sở giáo dục đào tạo có hợp tác đầu tư của nước ngoài chủ yếu phục vụ cho sinh viên người bản địa bằng việc áp dụng một hoặc nhiều tiêu chí của trường quốc tế. Ở Việt Nam, các trường đại học theo chuẩn quốc tế đặt mục tiêu hướng đến phục vụ sinh viên Việt Nam. Chương trình đào tạo của các trường này vẫn tuân thủ chương trình khung do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định.
Những tiêu chí chuẩn quốc tế thường được thể hiện qua một hay nhiều mặt sau: Có thêm các chương trình tiếng Anh tăng cường. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Có thêm những học phần du nhập từ nước ngoài. Có sự công nhận quốc tế về chương trình đào tạo. Có hợp tác với các trường quốc tế hoặc nước ngoài.
Có giảng viên nước ngoài. Cơ sở vật chất hiện đại, số sinh viên trên một lớp học theo tiêu chuẩn của các trường có hệ thống giáo dục – đào tạo phát triển.3 Các vấn đề chung về quản lý giáo dục 1. Quản lý Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của một số tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn hơn, đều phải thừa nhận và chịu một sự quản lý nào đó. Có thể nói, hoạt động quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật, nó điều khiển một hệ thống xã hội ở cả tầm vĩ mô và vi mô.
Hiện nay, mặc dù thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến, song chưa có một định nghĩa thống nhất. Khái niệm quản lý có nội dung rất chung, tổng quát, nó dùng cho cả quá trình xã hội, quá trình sinh vật cũng như quá trình kỹ thuật. Mỗi một định nghĩa về quản lý thường đúng với một lĩnh vực quản lý cụ thể và tùy theo các cách tiếp cận khác nhau. Theo cách tiếp cận trên phương diện hoạt động của tổ chức thì: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu dự kiến”.
Hoặc “hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”. Với cách tiếp cận tình huống thì: “Quản lý là thiết kế và duy trì một môi trường trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định”. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, lãnh đạo và kiểm tra. Bất kỳ một tổ chức nào, có mục đích, cơ cấu và quy mô ra sao thì cũng đều cần phải có sự quản lý và có người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích của mình.
Người quản lý là nhân vật có trách nhiệm phân bố nhân lực và nguồn lực, chỉ dẫn sự vận hành của một bộ phận hay toàn bộ tổ chức để tổ chức hoạt động có hiệu quả và đạt đến mục đích cuối cùng của tổ chức. Theo tác giả Đặng Quốc Bảo; Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động. Chính sự phân công, hợp tác lao động nhằm đạt đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất lao động cao hơn. Trong công việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp, điều hành, kiểm tra và chỉnh lý.
Có thể nói: Quản lý là sự tác động liên tục, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý về mặt chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội…bằng một hệ thống các luật, chính sách, nguyên tắc, phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối trượng. Xét về bản chất, các định nghĩa trên về quản lý bao gồm những điều chủ yếu sau: Quản lý là một loại hình hoạt động có đối tượng, là một dạng hoạt động có chủ hệ thống, nhằm đạt được những mục đích nhất định. Quản lý là thuộc tính tồn tại khách quan trong hoạt động của con người. Quản lý luôn đặt trong mối quan hệ tác động qua lại giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý, trong sự tác động của môi trường.
Do vậy, “Quản lý luôn phải đặt trong điều kiện có sự thay đổi, bắt nguồn từ những biến động, mà cuộc sống thì không bao giờ đứng yên”. Qua những định nghĩa về quản lý ta nhận thấy quản lý có những đặc trưng cơ bản sau đây: 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ nhất : Là một hoạt động có tính tất yếu, phổ biến và mang tính lịch sử. (Một nghệ sĩ chơi đàn chỉ phải điều khiển có chính mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” (C.Ăngghen, toàn tập, tập 23, NXB Sự thật, 1995, tr480) Thứ hai: Là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý bằng quyền lực. Thứ ba: Là hoạt động nhằm hướng tới thực hiện mục tiêu chung.