phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo thì nội dung chính của đề tài đƣợc trình bày ở 3 Chƣơng, nhƣ sau: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý chi thƣờng xuyên NSNN cấp huyện. - Chƣơng 2: Thực trạng quản lý chi thƣờng xuyên NSNN huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. - Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý chi thƣờng xuyên NSNN huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. - Chƣơng 4: Tổ chức thực hiện quản lý chi thƣờng xuyên NSNN huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai.
5 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHI THƢỜNG XUYÊN NSNN CẤP HUYỆN 1. Các khái niệm cơ bản liên quan về chi thƣờng xuyên và quản lý chi thƣờng xuyên ngân sách nhà nƣớc cấp huyện 1. Khái niệm, đặc điểm, nội dung của chi thường xuyên NSNN 1. Khái niệm Theo Luật NSNN 2015 thì Ngân sách Nhà nƣớc là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nƣớc đƣợc dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nƣớc [15].
Theo Điều 6, Luật NSNN 2015, “Ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương”. Ngân sách Trung ƣơng là các khoản thu ngân sách nhà nƣớc phân cấp cho cấp Trung ƣơng hƣởng và các khoản chi ngân sách nhà nƣớc thuộc nhiệm vụ chi của cấp Trung ƣơng là ngân sách của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác ở Trung ƣơng. Ngân sách địa phƣơng là các khoản thu ngân sách nhà nƣớc phân cấp cho cấp địa phƣơng hƣởng, thu bổ sung từ ngân sách trung ƣơng cho ngân sách địa phƣơng và các khoản chi ngân sách nhà nƣớc thuộc nhiệm vụ chi của cấp địa phƣơng, bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Ngân sách địa phƣơng gồm ngân sách cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng (gọi chung là ngân sách cấp tỉnh); ngân sách cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách cấp huyện) và ngân sách cấp xã, phƣờng, thị trấn [15].
Ngân sách nhà nƣớc cấp huyện là một cấp ngân sách thực hiện vai trò, chức năng, nhiệm vụ của NSNN trên phạm vi địa bàn huyện. Chi thƣờng xuyên NSNN là nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nƣớc nhằm bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nƣớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, hỗ trợ hoạt động của các tổ chức khác và thực hiện các nhiệm vụ thƣờng xuyên của nhà nƣớc về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh (Bùi Tiến 6 Hanh, Đặng Văn Du (2018)) [8]. Từ khái niệm về "Chi thường xuyên NSNN" ta có thể rút ra khái niệm về Chi thường xuyên ngân sách cấp huyện nhƣ sau: Chi thường xuyên NSNN cấp huyện là quá trình sử dụng, phân phối nguồn lực tài chính của nhà nước cấp huyện nhằm trang trải, đáp ứng những nhu cầu chi của các tổ chức chính trị-xã hội, các cơ quan nhà nước thuộc khu vực công của huyện, qua đó thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước trên địa bàn huyện về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng. Đặc điểm của chi thường xuyên NSNN Chi thƣờng xuyên NSNN huyện có vai trò quan trọng trong nhiệm vụ chi của NSNN cấp huyện, giúp cho bộ máy chính quyền cấp huyện duy trì hoạt động bình thƣờng để thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nƣớc, đảm bảo an ninh, an toàn xã hội.
Do vậy, chi thƣờng xuyên NSNN có những đặc điểm sau [8]: Thứ nhất, chi thƣờng xuyên NSNN là chi tiêu công của quốc gia có qui mô lớn, phạm vi rộng, đa dạng và phức tạp; gắn chặt với tổ chức bộ máy nhà nƣớc và các nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội của Nhà nƣớc trong từng thời kỳ. Các khoản chi thƣờng xuyên NSNN mang tính ổn định tƣơng đối và không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu [8]. Thứ hai, chi thƣờng xuyên NSNN có cơ cấu chi theo niên độ, mục đích cuối cùng của vốn cấp phát thì chi thƣờng xuyên cho các hoạt động sự nghiệp có hiệu lực tác động trong thời gian ngắn và mang tính chất tiêu dùng xã hội [13]. Thứ ba, các nhiệm vụ thƣờng xuyên hàng năm của Nhà nƣớc ít có sự biến động nên tổng mức, tỷ trọng trong chi NSNN, nội dung và cơ cấu chi thƣờng xuyên NSNN ít có sự biến động lớn giữa các năm ngân sách [13].
Thứ tư, chi thƣờng xuyên NSNN nhằm duy trì sự tồn tại, trang trải các chi phí họa động thƣờng xuyên của bộ máy nhà nƣớc và cung cấp các dịch vụ, sự nghiệp công thiết yếu (về giáo dục, y tế, quốc phòng, an ninh, an sinh xã hội,.) cho ngƣời dân nên các khoản chi thƣờng xuyên NSNN không trực tiếp tạo ra vật chất của cải cho xã hội và thƣờng chỉ phát huy hiệu lực tác động trong năm ngân sách [8]. Chi thường xuyên NSNN được thể hiện qua các nội dung Nội dung chi thƣờng xuyên NSNN đƣợc xét theo nội dung kinh tế và xét theo lĩnh vực chi của các khoản chi thƣờng xuyên. * Căn cứ vào tính chất kinh tế, chi thƣờng xuyên gồm 4 nhóm sau: - Nhóm các khoản chi thanh toán cho cá nhân gồm: tiền lƣơng; phụ cấp lƣơng; học bổng học sinh, sinh viên; tiền thƣởng; phúc lợi tập thể; chi về công tác ngƣời có công với cách mạng và xã hội; chi lƣơng hƣu và trợ cấp bảo hiểm xã hội; các khoản thanh toán khác cho cá nhân. - Nhóm các khoản chi nghiệp vụ chuyên môn gồm: thanh toán dịch vụ công cộng; vật tƣ văn phòng; thông tin tuyên truyền liên lạc; hội nghị; công tác phí; chi phí thuê mƣớn; chi sửa chữa thƣờng xuyên; chi phí nghiệp vụ chuyên môn của từng ngành.
- Nhóm các khoản chi mua sắm, sửa chữa lớn tài sản cố định và xây dựng nhỏ gồm: sửa chữa lớn tài sản cố định phục vụ chuyên môn và các công trình cơ sở hạ tầng; chi mua tài sản vô hình; mua sắm tài sản dùng cho công tác chuyên môn. - Nhóm các khoản chi thƣờng xuyên khác gồm: các nhóm mục của mục lục Ngân sách nhà nƣớc không nằm trong 3 nhóm mục trên và các mục từ mục 147 đến mục 150 thuộc khoản chi thƣờng xuyên trong mục lục Ngân sách nhà nƣớc. * Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn, chi thƣờng xuyên bao gồm: - Chi sự nghiệp kinh tế: Hoạt động của các đơn vị sự nghiệp kinh tế nhằm phục vụ cho yêu cầu phát triển sản xuất kinh doanh, quản lý KT-XH và tạo điều kiện cho các ngành kinh tế hoạt động và phát triển một cách thuận lợi. Mục đích hoạt động của đơn vị sự nghiệp kinh tế không phải là kinh doanh lấy lãi, do vậy NSNN cần dành một khoản chi đáp ứng hoạt động của các đơn vị này.
Chi sự nghiệp kinh tế bao gồm: - Chi SN Nông nghiệp, thuỷ lợi, ngƣ nghiệp, lâm nghiệp, giao thông, kiến thiết thị chính và kinh tế công cộng khác. - Chi điều tra cơ bản, đo đạc địa giới hành chính các cấp; Chi về bản đồ, đo đạc cắm mốc biên giới, đo đạc lập bản đồ và lƣu trữ hồ sơ địa chính; Chi định canh, 8 định cƣ và kinh tế mới. - Chi sự nghiệp Văn hoá - Xã hội: Chi SN Giáo dục - Đào tạo; Chi SN Y tế; SN Văn hóa - Thông tin; SN Thể dục - Thể thao; SN Phát thanh -Truyền hình; SN Khoa học - Công nghệ và môi trƣờng; SN xã hội; SN văn xã khác. - Chi Quản lý hành chính: Là các khoản chi cho hoạt động của các cơ quan Hành chính Nhà nƣớc thuộc bộ máy chính quyền các cấp từ trung ƣơng đến địa phƣơng.
- Chi về hoạt động của Đảng cộng sản Việt Nam; Chi về hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội gồm: Ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam, Liên đoàn Lao động, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh, Hội LHPN, Hội Nông dân. Đây là các tổ chức thuộc hệ thống chính trị của nƣớc ta, do vậy theo quy định của luật NSNN, NSNN có trách nhiệm bố trí chi NS đảm bảo hoạt động của các tổ chức này. Quản lý chi thường xuyên NSNN Tùy theo cách tiếp cận khác nhau mà có nhiều cách đƣa ra khái niệm về quản lý chi thƣờng xuyên NSNN. Theo Bùi Tiến Hanh, Đặng Văn Du (2018) thì Quản lý chi thường xuyên NSNN là các khoản chi thường xuyên của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong khoảng thời gian nhất định và được quản lý toàn bộ do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định, sử dụng hệ thống các biện pháp tác động vào hoạt động chi thường xuyên NSNN nhằm các khoản chi thường xuyên được sử dụng hiệu quả, đúng mục đích và tiết kiệm; nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ quản lý của Nhà nước.
Theo đó: Chủ thể quản lý chi thƣờng xuyên NSNN là các cơ quan quản lý nhà nƣớc có thẩm quyền các cấp và các đơn vị dự toán ngân sách. Đối tƣợng quản lý là hoạt động chi thƣờng xuyên NSNN ở các bƣớc nhƣ lập dự toán, phân bổ dự toán, chấp hành dự toán, kiểm soát thanh toán và quyết toán các khoản chi thƣờng xuyên NSNN. Công cụ quản lý chi thƣờng xuyên NSNN là các chế độ, chính sách; các tiêu chuẩn, định mức do các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền quy định. Vai trò của quản lý chi thường xuyên NSNN Thứ nhất, đảm bảo nguồn tài chính cho hoạt động của các cơ quan nhà nƣớc; là thƣớc đo quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động của các cơ quan Nhà nƣớc.
Thứ hai, đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, ổn định an ninh chính trị trên địa bàn, góp phần tạo động lực cho nền kinh tế - xã hội sự phát triển. Quản lý có hiệu quả các khoản chi của NSNN sẽ có sự tác động tích cực đến đời sống kinh tế - xã hội, đảm bảo mục tiêu phát triển đã đề ra. Thứ ba, nâng cao hiệu quả sử dụng các khoản chi thƣờng xuyên NSNN nhằm tăng hiệu quả sử dụng vốn NS, đảm bảo tiết kiệm, có hiệu quả. Quản lý các khoản chi thƣờng xuyên NSNN sẽ tránh đƣợc tình trạng chi dàn trải, chƣa thực sự cấp thiết và đặc biệt là tình trạng thất thoát nguồn vốn NSNN.
Thứ tư, quản lý chi thƣờng xuyên ngân sách giúp điều tiết thu nhập dân cƣ thực hiện công bằng trong xã hội. Qua công tác quản lý đề xuất chi NS để giảm bớt sự phân hóa giàu nghèo từ đó công bằng xã hội đƣợc cải thiện.