chương 1, tác giả trình bày về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và kết cấu của luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài và lược khảo các nghiên cứu liên quan. Mô hình nghiên cứu đề xuất cũng được trình bày trong chương 2. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trong chương 3, tác giả trình bày quy trình nghiên cứu, phát triển các giả thuyết, mô hình nghiên cứu và thang đo các nhân tố trong mô hình nghiên cứu.
Bên cạnh đó, phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng cũng được trình bày cụ thể trong chương 3. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Trong chương 4, tác giả trình bày thực trạng hiệu quả quản lý ngân sách trên địa bàn huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau và kết quả nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước tại huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau. Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị Chương 5 trình bày kết luận về các mục tiêu nghiên cứu của luận văn. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, các hàm ý quản trị cũng được đề xuất trong chương 5.
Bên cạnh đó, các hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo cũng được trình bày trong chương 5. Các khái niệm liên quan 2.1 Tổng quan về ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nước, ngân sách chính phủ, hay ngân sách quốc gia là một phạm trù kinh tế, phạm trù lịch sử, là một thành phần trong hệ thống tài chính. Thuật ngữ "Ngân sách nhà nước" được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội ở mọi quốc gia. Song quan niệm về ngân sách nhà nước lại chưa thống nhất, người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa về ngân sách nhà nước tùy theo các trường phái và các lĩnh vực nghiên cứu.
Các nhà kinh tế Nga quan niệm: Ngân sách nhà nước là bảng liệt kê các khoản thu, chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của quốc gia. Khoản 14 Điều 4 Luật Ngân sách nhà nước 2015 của Việt Nam định nghĩa: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoản thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Sự hình thành và phát triển của ngân sách nhà nước gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của kinh tế hàng hóa - tiền tệ trong các phương thức sản xuất của cộng đồng và nhà nước của từng cộng đồng. Nói cách khác, sự ra đời của nhà nước, sự tồn tại của kinh tế hàng hóa - tiền tệ là những tiền đề cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của ngân sách nhà nước.
Ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Ngân sách trung ương là ngân sách của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác ở trung ương. Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân. Ngân sách nhà nước có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của đất nước.
Cần hiểu rằng, vai trò của ngân sách nhà nước luôn gắn liền với vai trò của nhà nước theo từng giai đoạn nhất định. Đối với nền kinh tế thị trường, ngân sách nhà nước đảm nhận vai trò quản lý vĩ mô đối với toàn bộ nền kinh tế, xã hội. Ngân sách nhà nước là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội, định hướng phát triển sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống xã hội.” 6 Cũng theo Luật Ngân sách nhà nước 2015, những vấn đề cơ bản trong ngân sách nhà nước, bao gồm: “(i) Thu ngân sách Nhà nước là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quĩ ngân sách Nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Cơ cấu thu ngân sách Nhà nước là nội dung các khoản thu ngân sách Nhà nước và tỉ trọng từng khoản thu trong tổng thu ngân sách Nhà nước; (ii) Thu ngân sách nhà nước bao gồm: toàn bộ các khoản thu từ thuế, lệ phí; toàn bộ các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan nhà nước thực hiện, trường hợp được khoán chi phí hoạt động thì được khấu trừ, các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước thực hiện nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật; các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở ngoài nước cho Chính phủ Việt Nam và chính quyền địa phương; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật; (iii) Chi ngân sách Nhà nước là việc phân phối và sử dụng quỹ ngân sách Nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện chức năng của Nhà nước theo những nguyên tắc nhất định.
Bản chất chi ngân sách Nhà nước là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã được tập trung vào ngân sách Nhà nước và đưa chúng đến mục đích sử dụng. Do đó, chi ngân sách Nhà nước là những việc cụ thể không chỉ dừng lại trên các định hướng mà phải phân bổ cho từng mục tiêu, từng hoạt động và từng công việc thuộc chức năng của Nhà nước; (iv) Chi ngân sách nhà nước bao gồm: chi thường xuyên; chi đầu tư phát triển; chi trả nợ, viện trợ; chi dự trữ Nhà nước; (v) Chi thường xuyên là nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước nhằm bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, hỗ trợ hoạt động của các tổ chức khác và thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Chi thường xuyên được mang tính ổn định, phần lớn mang tính tiêu dùng và gắn với cơ cấu tổ chức có tính bắt buộc. (vi) Chi đầu tư phát triển là nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước, gồm chi đầu tư xây dựng cơ bản và một số nhiệm vụ chi đầu tư khác theo quy định của pháp luật.
Chi đầu tư xây dựng cơ bản là nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước để thực hiện các chương trình, dự án đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội và các 7 chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế – xã hội; (vii) Chi trả nợ là nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước để trả các khoản nợ đến hạn phải trả, bao gồm khoản gốc, lãi, phí và chi phí khác phát sinh từ việc vay; (viii) Chi dự trữ quốc gia là nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước để mua hàng dự trữ theo quy định của pháp luật về dự trữ quốc gia; (ix) Các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật được tổng hợp đầy đủ vào cân đối ngân sách nhà nước, theo nguyên tắc không gắn với nhiệm vụ chi cụ thể. Trường hợp có khoản thu cần gắn với nhiệm vụ chi cụ thể theo quy định của pháp luật thì được bố trí tương ứng từ các khoản thu này trong dự toán chi ngân sách để thực hiện. Việc ban hành chính sách thu ngân sách phải bảo đảm nguyên tắc cân đối ngân sách trong trung hạn, dài hạn và thực hiện các cam kết về hội nhập quốc tế; (x) Ngân sách nhà nước được cân đối theo nguyên tắc tổng số thu từ thuế, phí, lệ phí phải lớn hơn tổng số chi thường xuyên và góp phần tích lũy ngày càng cao để chi đầu tư phát triển; trường hợp còn bội chi thì số bội chi phải nhỏ hơn số chi đầu tư phát triển, tiến tới cân bằng thu, chi ngân sách; trường hợp đặc biệt Chính phủ trình Quốc hội xem xét, quyết định. Trường hợp bội thu ngân sách thì được sử dụng để trả nợ gốc và lãi các khoản vay của ngân sách nhà nước.” Hiệu quả quản lý ngân sách: khả năng của một tổ chức xây dựng, thông qua và thực hiện ngân sách, đưa ra các biện pháp kiểm soát để đảm bảo đạt được các mục tiêu và nghĩa vụ dài hạn và ngắn hạn của tổ chức.2 Khái niệm, vai trò ngân sách nhà nước huyện/quận/thị xã/thành phố Khái niệm ngân sách nhà nước cấp huyện/quận/thị xã/thành phố (sau đây gọi chung là ngân sách cấp huyện): Ngân sách huyện thực hiện vai trò, chức năng, nhiệm vụ của ngân sách nhà nước trên phạm vi địa bàn huyện; đó là mối quan hệ giữa ngân sách với các tổ chức, các đơn vị trong quá trình phân bổ, sử dụng các nguồn lực kinh tế của huyện.
Ngân sách cấp huyện bao gồm thu ngân sách huyện và chi ngân sách huyện. Thu ngân sách huyện bao gồm: các khoản thu ngân sách huyện hưởng theo phân cấp và thu bổ sung từ ngân sách cấp trên. Chi ngân sách huyện bao gồm: chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên. 8 Vai trò của ngân sách nhà nước cấp huyện: Ngân sách huyện có vai trò rất quan trọng trong hoạt động kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng của huyện.
Ngân sách huyện là công cụ quan trọng của chính quyền cấp huyện trong việc ổn định, phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện.3 Quản lý ngân sách Khái niệm quản lý: Trên thực tế tồn tại nhiều cách tiếp cận khái niệm “quản lý”. Thông thường, quản lý đồng nhất với các hoạt động tổ chức chỉ huy, điều khiển, động viên, kiểm tra, điều chỉnh, theo lý thuyết hệ thống thì “quản lý là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lý đến một hệ thống nào đó nhằm biến đổi nó từ trạng thái này sang trạng thái khác theo nguyên lý phá vỡ hệ thống cũ để tạo lập hệ thống mới và điều khiển hệ thống” (Giáo trình Khoa học quản lý - Tập 2 - NXB Khoa học kỹ thuật - 2001). Quản lý ngân sách nhà nước: Trong Luật Ngân sách nhà nước số 01/2002/QH11 hay Luật Ngân sách nhà nước số 83/2015/QH13 không làm rõ khái niệm này, nhưng đưa ra các nguyên tắc, quy phạm trong quản lý nhà nước các cấp và điều hành ngân sách nhà nước.