CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP XÃ VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP XÃ VÀ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP XÃ 1. Cơ sở lý luận về NSNN 1. Khái niệm NSNN Theo Luật ngân sách Nhà nước số 83/2015/QH13 ngày 25 tháng 6 năm 2015 (của Quốc Hội khóa XV gọi tắt là Luật Ngân sách năm 2015), đã xác định: “Ngân sách nhà nước (NSNN) là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Ngân sách nhà nước có thể hiểu là một kế hoạch tài chính quốc gia bao gồm chủ yếu các khoản thu và chi của Nhà nước được mô tả dưới hình thức cân đối bằng giá trị tiền tệ. Phần thu thể hiện các nguồn tài chính được huy động vào ngân sách nhà nước; phần chi thể hiện chính sách phân phối các nguồn tài chính đã huy động được để thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội. Ngân sách nhà nước được lập và thực hiện cho một thời gian nhất định, thường là một năm và được Quốc hội phê chuẩn thông qua”. Như vậy, NSNN là một phạm trù kinh tế lịch sử gắn liền với sự ra đời của Nhà nước, gắn liền với quá trình xuất hiện và phát triển của kinh tế hàng hoá tiền tệ.
Nói cách khác, sự ra đời của nhà nước, sự tồn tại của kinh tế hàng hoá là những điều kiện cần và đủ cho sự phát sinh tồn tại và phát triển của ngân sách nhà nước. Đặc điểm ngân sách nhà nước Theo Giáo trình quản lý ngân sách nhà nước của Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh (2009), NSNN vừa là nguồn lực để nuôi dưỡng bộ máy nhà nước, vừa là công cụ hữu hiệu để nhà nước quản lý, điều tiết nền kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội nên có những đặc điểm chính sau: - Thứ nhất, việc tạo lập và sử dụng quỹ NSNN luôn gắn liền với quyền lực kinh tế - chính trị của nhà nước, được nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định. - Thứ hai, NSNN luôn gắn chặt với sở hữu nhà nước và luôn chứa đựng lợi ích chung, lợi ích công cộng. 19 - Thứ ba, NSNN là một bản dự toán thu chi.
Các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm lập NSNN và đề ra các thông số quan trọng có liên quan đến chính sách mà Chính phủ phải thực hiện trong năm tài khóa tiếp theo. -Thứ tư, NSNN là một bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính quốc gia. Hệ thống tài chính quốc gia bao gồm: tài chính nhà nước, tài chính doanh nghiệp, trung gian tài chính và tài chính cá nhân hoặc hộ gia đình. - Thứ năm, đặc điểm của NSNN luôn gắn liền với tính giai cấp.
Ở đây giai cấp được thể hiện là các cơ quan quản lý nhà nước. Thu ngân sách được thực hiện ở các cá nhân, tổ chức có các hoạt đông phải có nghĩa vụ đóng thuế trong 1 quốc gia thông qua các cơ quan công quyền. Các khoản thu này sẽ được sử dụng cho chính các cơ quan công quyền để quản lý và để tái phát triển quốc gia đó. Vai trò ngân sách nhà nước Xem xét vai trò của NSNN không thể tách rời việc xem xét vai trò của Nhà nước, bởi lẽ vai trò của Nhà nước bao giờ cũng gắn liền với vai trò của Nhà nước trong từng thời kỳ nhất định.
Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của NSNN được thay đổi và trở nên hết sức quan trọng. Hoạt động của NSNN đã chuyển biến một cách căn bản từ chỗ chỉ gắn với khu vực kinh tế quốc doanh và các nhu cầu chi tiêu cho bộ máy của Nhà nước trong cơ chế bao cấp sang một bình diện với với phạm vi rộng lớn và bao quát hơn. Vai trò của ngân sách nhà nước được thể hiện trên một số lĩnh vực điều tiết sau đây: - Một là, NSNN là công cụ chủ yếu phân bổ trực tiếp hoặc gián tiếp các nguồn tài chính quốc gia. Qua đó, định hướng phát triển sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế mới và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ổn định, bền vững.
- Hai là, NSNN là công cụ để điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và kiềm chế lạm phát. - Ba là, NSNN là công cụ có hiệu lực của Nhà nước để điều chỉnh trong lĩnh vực thu nhập, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội. Ngân sách Nhà nước là công cụ huy động các nguồn tài chính để đảm bảo các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. - Vai trò kiểm tra, giám sát các hoạt động tài chính của Ngân sách Nhà nước 20 1.
Hệ thống ngân sách nhà nước và phân cấp quản lý ngân sách nhà nước Hệ thống NSNN là tổng thể các cấp ngân sách có mối quan hệ hữu cơ với nhau đã được xác định bởi sự thống nhất về cơ sở kinh tế, chính trị, pháp chế và các nguyên tắc tổ chức của Nhà nước. Trên thế giới có hai mô hình tổ chức hệ thống NSNN phù hợp với hai mô hình tổ chức hệ thống hành chính. Đối với các nước có mô hình tổ chức hành chính theo thể chế Nhà nước liên bang (như Mỹ, Đức, Canada, Thuỵ Sỹ, Malaysia.) hệ thống NSNN được tổ chức theo ba cấp: ngân sách liên bang; ngân sách bang và ngân sách địa phương. Đối với các nước có mô hình tổ chức hành chính theo thể chế Nhà nước thống nhất hay phi liên bang (như Anh, Pháp, Ý, Nhật, Việt Nam.), hệ thống NSNN gồm có: ngân sách trung ương và ngân sách địa phương.
Theo Luật NSNN số 83/2015/QH13 ngày 25/06/2015 (gọi tắt là Luật NSNN 2015), hệ thống NSNN Việt Nam được mô tả theo sơ đồ 1. Hệ thống Ngân sách nhà nước Việt Nam Ngân sách nhà nước Ngân sách Trung ương Ngân sách địa phương Ngân sách Tỉnh, Tp trực thuộc trung ương NS Huyện, Quận, Thị xã, Tp trực thuộc tỉnh (NS tỉnh) NS Xã, Phường, Thị trấn (NS xã) 21 Theo sơ đồ 1.1, hệ thống NSNN Việt Nam được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 6 của Luật NSNN năm 2015 thì NSNN bao gồm NSTW và NSĐP trong đó: - NSTW là các khoản thu NSNN phân cấp cho cấp Trung ương hưởng và các khoản chi NSNN thuộc nhiệm vụ chi của cấp Trung ương. - NSĐP là các khoản thu NSNN phân cấp cho cấp địa phương hưởng, thu bổ sung từ NSTW cho NSĐP và các khoản chi NSNN thuộc nhiệm vụ chi của cácđịa phương. NSĐP gồm ngân sách của các cấp chính quyền địa phương: ngân sách của các đơn vị hành chính các cấp có HĐND, UBND theo quy định của Luật Tổ chức HĐND, UBND gồm ngân sách thành phố thuộc tỉnh, huyện, xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện và ngân sách cấp xã).
Hiệu quả quản lý NSNN 1. Đối với công tác quản lý thu NSNN Hiệu quả quản lý thu NSNN thể hiện ở việc tổ chức thu đúng, thu đủ, thu kịp thời và tính bền vững trong tạo lập nguồn thu trong công tác quản lý các khoản thu NSNN theo quy định của pháp luật. Ngoài ra hiệu quả quản lý thu NSNN còn được thể hiện ở việc khai thác hợp lý các khoản thu tiềm ẩn trong nền kinh tế. Song song đó, cần tăng cường và bồi dưỡng các nguồn lực tài chính một cách hợp lý, hợp pháp nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao trong công tác cân đối thu – chi NSNN.
Đối với công tác quản lý chi NSNN Hiệu quả quản lý NSNN thể hiện ở tính bền vững của chính sách chi tiêu NSNN, chính sách chi tiêu bền vững là chính sách chi tiêu có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra, hiệu quả quản lý chi NSNN còn là quá trình phân phối lại quỹ tiền tệ một cách hợp lý, tiết kiệm nhằm thực hiện chức năng của Nhà nước trên cơ sở sử dụng hệ thống chính sách, pháp luật. Tuy nhiên, quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan trong công tác quản lý chi chưa được thể hiện rõ. Còn nhiều cơ quan, đơn vị cùng tham gia quản lý, kiểm soát, kiểm soát thanh toán chi NSNN như: đơn vị sử dụng NSNN, cơ quan tài chính và KBNN.
Ngân sách nhà nước cấp xã 1. Khái niệm ngân sách cấp xã Theo Thông tư số Số: 60/2003/TT-BTC ngày 26/6/2003 của Bộ tài chính quy định [14] : - Ngân sách xã là một bộ phận của ngân sách nhà nước. - Ngân sách cấp xã có nguồn thu từ các khoản thu của ngân sách nhà nước phân cấp cho ngân sách xã và các khoản huy động đóng góp của tổ chức, cá nhân trên nguyên tắc tự nguyện để xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng theo quy định của pháp luật do Hội đồng nhân dân xã quyết định đưa vào ngân sách xã quản lý. - Chi ngân sách xã gồm: chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên.
Việc phân cấp nhiệm vụ chi cho ngân sách xã phải căn cứ vào chế độ phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của Nhà nước, các chính sách chế độ về hoạt động của các cơ quan Nhà nước, Đảng Cộng sản Việt Nam, các tổ chức chính trị xã hội; đồng thời phải phù hợp với trình độ, khả năng quản lý của chính quyền xã. - Dự toán chi ngân sách xã được bố trí khoản dự phòng bằng 2% - 5% tổng số chi để chi phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, hoả hoạn, nhiệm vụ quan trọng về trật tự an toàn xã hội và nhiệm vụ cấp bách khác phát sinh ngoài dự toán. Uỷ ban nhân dân xã quyết định sử dụng dự phòng ngân sách xã và định kỳ 3 tháng báo cáo Chủ tịch, Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân và báo cáo Hội đồng nhân dân xã tại kỳ họp gần nhất. - Cân đối ngân sách xã phải bảo đảm nguyên tắc chi không vượt quá nguồn thu quy định.
Nghiêm cấm đi vay hoặc chiếm dụng vốn dưới mọi hình thức để cân đối ngân sách xã. - Ngân sách xã do Uỷ ban nhân dân xã xây dựng và quản lý, Hội đồng nhân dân xã quyết định và giám sát. Nội dung Thu – Chi ngân sách cấp xã 1.