Chương 1 TỎNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Téng quan các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 1. Các nghiên cứu nước ngoài Dorta-Velazquez và cs (2010) phân tích và xác định các yếu tố dẫn đến quyết định phân bồ ngân sách của 87 chính quyền địa phương tại Tây Ban Nha giai đoạn 1996-2004. Phương pháp hồi quy dữ liệu bảng động với kỹ thuật ước lượng GMM được sử dụng.
Kết luận chính rút ra là phân bồ ngân sách cho chi tiêu của thành pho không phải là một van dé ngẫu nhiên mà phụ thuộc vào các biến số tai chính: thang dư ngân sách cho chi phí chung, chi tiêu bình quân đầu người, đầu tư bình quân đầu người, vốn và các khoản chuyền nhượng vãng lai nhận được, khả năng (nhu cầu) tài chính của tập đoản. Boukbech Bousselhami và Ezzahid (2018) bằng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng với mô hình những tác động cố định (FEM) và mô hình những tác động ngẫu nhiên (REM), đã thực hiện nghiên cứu các yêu tố ảnh hưởng đến số thu thuế tại 29 quốc gia có thu nhập trung bình thấp giai đoạn 2001-2014. Các yếu tổ trong mô hình nghiên cứu tác động số thu thuế gồm: thu nhập bình quần đầu người (GDP), giá trị gia tăng của ngành nông nghiệp trên GDP, mức độ mở cửa của thị trường, tỷ lệ tang dân số. Chi tiêu chính phủ, ty lệ lạm phát, giá trị viện trợ ròng nhận được, tỷ lệ nợ nước ngoài cũng được đưa vào nghiên cứu tác động đến nỗ lực thu thuế tại các nước.
Kết quả cho thấy, GDP bình quân đầu người và giá trị gia tăng của nông nghiệp có tương quan đáng ké và thuận chiều với doanh thu từ thuế. Mức độ mở cửa thị trường có ảnh hưởng tích cực nhưng không đáng ké đến doanh thu thuế. Tác động của tỷ lệ gia tăng dân số là tiêu cực nhưng không đáng kể. Đối với các yếu tố quyết định của nỗ lực thuế, tác động của lạm phát và chi tiêu công là đáng ké và tích cực.
Mối quan hệ giữa nỗ lực thuế và giá trị viện trợ nhận được cũng như nợ nước ngoài là tiêu cực. Jibir và Aluthge (2019) nghiên cứu yếu té tác động đến chi tiêu Chính phủ tại Nigeria giai đoạn 1970-2017. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian, phân tích bang mô hình tự hồi quy phan phối trễ (ARDL) với hai mô hình nghiên cứu. Mô hình 1 gồm biến phụ thuộc là tông chi tiêu Chính phủ và các biến độc lập: GDP; doanh thu từ dầu mỏ, nợ công, dần số, tỷ lệ lạm phát và độ mở thương mại.
Mô hình 2 gồm biến phụ thuộc tỷ lệ tông chi tiêu Chính phủ/GDP, các biến độc lập: tốc độ tăng trưởng GDP thực, tỷ giá hối đoái, tốc độ tăng dân số, doanh thu từ thuế, giá dầu mỏ và độ mở thương mại. Kết quả cho thấy doanh thu từ dầu mỏ, GDP, dân số, độ mở thương mại, giá dầu, thuế và lạm phát là những yếu tố quan trọng quyết định đến quy mô chỉ tiêu. Các nghiên cứu trong nước Morgan và Trinh (2017) nghiên cứu quan hệ tài khóa liên Chính phủ ở Việt Nam, đánh giá thực nghiệm thu chi ngân sách của chính quyền địa phương ở Việt Nam. Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính đa biến ước tính các mối tương quan của các yếu tố tác động đến thặng dư ngân sách cấp tỉnh thông qua mô hình dit liệu bảng động với phương pháp ước lượng các tác động có định (Fixed Effects) và phương pháp ước lượng moment tổng quát (GMM).
Các biến đưa vào mô hình nghiên cứu tác động đến thặng dư ngân sách gồm: thặng dư/ thâm hụt ngân sách kỳ trước, chênh lệch GRDP địa phương, chênh lệch chi tiêu địa phương, chuyền giao cân đối ngân sách. Kết quả cho thấy chênh lệch GRDP địa phương tác động tích cực đến thang dư tài khóa, chênh lệch chi tiêu có tác động tích cực đến thặng dư tài khóa đối với các tỉnh nghèo hơn. Hệ số tỷ lệ chuyển giao cân đối trên tong chỉ tiêu là âm và có ý nghĩa thống kê, cho thấy phụ thuộc vào chuyền nhượng nguồn đề cân đối ngân sách của chính phủ thì khả năng thầm hụt của tỉnh càng cao. Nguyễn Luân Vũ (2017) đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu ngân sách nhà nước - Nghiên cứu trường hợp các tỉnh ven biển Đồng bằng sông Cửu Long.
Nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu bảng của 7 tỉnh, thành ven biển ĐBSCL bao gồm: Bến Tre, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, Sóc Trang, Tién Giang, Tra Vinh, giai doan 2005 - 2014 dé phân tích. Bằng phương pháp nghiên cứu định lượng, áp dụng mô hình hồi quy tác động có định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM), nghiên cứu xem xét sáu yêu tố ảnh hưởng đến thu ngân sách nhà nước các tỉnh ven biển ĐBSCL như GDP bình quân đầu người, mở cửa thương mại, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, tỷ lệ thâm hụt ngân sách, số lượng doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn và tỷ lệ dân số trong độ tudi lao động có việc làm. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố tác động đến thu NSNN các tỉnh ven biển ĐBSCL gồm GDP bình quân đầu người, tỷ lệ thâm hụt ngân sách, số lượng doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn, tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động có việc làm. Yếu tố mở cửa thương mại không tác động đến thu ngân sách nhà nước các tỉnh ven biển ĐBSCL, khác với kỳ vọng từ lý thuyết và kết quả các nghiên cứu liên quan trước đây.
Nguyễn Hữu Huy Lâm (2019) đã phân tích các yếu tô tác động đến thu ngân sách nhà nước trên địa bàn các tỉnh miền Đông Nam Bộ. Nghiên cứu đã xây dựng các yêu tô có khả năng tác động đến số thu ngân sách bao gồm các yếu tố: Tổng sản phẩm trong nước theo giá hiện hành (GRDP); Ty trọng sản phẩm trong nước khu vực nông nghiệp GRDP; Tỷ trọng độ mở thương mai/ GRDP; Số chi dau tư phát triển từ ngân sách; Số chi cho giáo dục từ ngân sách; Số lượng doanh nghiệp và Lạm phát (đại diện là chỉ số giá CPI). Các mô hình hồi quy đữ liệu bảng được áp dụng trong đề tài lần lượt là: Mô hình hồi quy tuyến tinh đa biến, Mô hình tác động cố định (Fixed Effects Model - FEM) và Mô hình tác động ngẫu nghiên (Random Effects Model - REM). Kết quả của nghiên cứu cho thấy Tổng sản phẩm theo giá hiện hành, Chi cho giáo dục, Số lượng doanh nghiệp, Số chi đầu tư phát triển từ ngân sách và Lam phát có tác động đến số thu ngân sách nhà nước.
Tỷ trọng Nông nghiệp/ GRDP; Tỷ trọng độ mở thương mại/ GRDP; Số chi đầu tư phát triển từ ngân sách không có tác động đến số thu ngân sách nhà nước. Tran Xuân Hang và Nguyễn Thị Kim Chi (2019) đã đánh giá các yếu tố tác động đến doanh thu thuế của các quốc gia ASEAN cho bộ dữ liệu bảng cân bang 7 quốc gia khu vực ASEAN (Cambodia, Indonesia, Lao, Malaysia, Philippines, Thailand, Việt Nam) trong giai đoạn 2008 - 2017. Cac dữ liệu được khai thác từ bộ dữ liệu về các chỉ số phát triển toàn cầu của Ngân hàng Thế giới (WDI). Các quốc gia này có đặc điểm chung là nền kinh tế dựa vào xuất khẩu và có mức tiết kiệm quốc gia trên GRDP khá cao với mức trung bình 30%.
Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật ước lượng hiệu ứng cô định (FEM) và hiệu ứng ngẫu nhiên (REM). Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tô về tỷ trọng công nghiệp và lạm phát tác động cùng chiều đến doanh thu thuế. Ngược lại các yếu tố về tỷ trọng nông nghiệp và độ mở thương mại tác động ngược chiều đến doanh thu thuê. Nguyễn Huy Hoang va cs (2019) xem xét mối quan hệ giữa chi tiêu công và một số chỉ tiêu kinh tế-xã hội Thành phố Hồ Chí Minh (TP.
Nghiên cứu sử dụng mô hình véc tơ tự hồi quy (VAR) và ước lượng VECM trên đữ liệu chuỗi thời gian 1993-2015. Các chỉ tiêu kinh tế tại TP. HCM đưa vào mô hình gồm: giá trị tổng sản phẩm quốc nội (GRDP); Tổng vốn đầu tư, Vốn FDI thực hiện, tỷ lệ hộ nghèo, sỐ lao động. Kết quả cho thấy trong dài hạn, giá tri tổng sản phẩm quốc nội địa phương, tong vốn dau tư cũng như FDI là nguyên nhân gây ra biến động chi NSNN của TP.
Giữa chỉ ngân sách và FDI có mối quan hệ đồng liên kết trong dài hạn. Ngoài ra, GRDP cũng giải thích biến động chỉ ngân sách địa phương. Bùi Quang Phát (2020) nghiên cứu nhân tô ảnh hưởng đến thu NSĐP ở 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Việt Nam trong giai đoạn 2011-2015. Sử dụng các mô hình xử lý dir liệu truyền thống đối với dir liệu bảng, bao gồm mô hình hồi quy tuyến tính đa biến, mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM), kết quả cho thấy, tăng trưởng kinh tế địa phương tác động tích cực đến thu NSĐP tuy nhiên khi tăng ở mức độ thấp, tăng trưởng kinh tế địa phương tăng không dẫn đến sự tăng lên trong thu ngân sách.
Các nhân tổ quy mô dan só, ty trọng sản xuất nông nghiệp, lầm nghiệp và thủy sản trên GRDP, độ mở thương mại, bố sung cân đối từ ngân sách trung ương cho các địa phương tác động ngược chiều tới thu ngân sách. Đặc biệt, biến tương tác PCIGRDP là tích số của biến số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) và GRDP nhằm đánh giá vai trò của chất lượng thể chế trong mối quan hệ giữa GRDP và thu ngân sách. Kết quả cho thấy, chất lượng thê chế là nhân tố kìm hãm tác động tăng trưởng kinh tế lên thu ngân sách địa phương. Qua tổng quan các nghiên cứu cho thấy, các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thu ngân sách nhà nước đã được nhiều tác giả nghiên cứu.
Trong đó, các phương pháp hồi quy tuyến tinh đa biến, mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) được các tác gia sử dụng trong phân tích dữ liệu. Dé tài tiên hành kế thừa các yếu tố tác động đến thu ngân sách nhằm hoàn thiện mô hình nghiên cứu tại tỉnh Long An. Đồng thời, các phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính đa được su dụng trong phân tích các yếu tố tác động đến thu ngân sách tại 15 đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Long An. Tổng quan địa bàn nghiên cứu Long An là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam.
Tỉnh Long An nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, cũng là cửa ngõ nối liền Đông Nam Bộ với vùng đồng bằng sông Cửu Long.