Chương 1 là phần giới thiệu. Chương 2 là phần lược khảo các nghiên cứu trước đó, đưa ra khung lý thuyết; trình bày các quy định, luật, nghị định và hệ thống phân bổ ngân sách của Việt Nam. Trong phần này, sau khi nghiên cứu các nghiên cứu trước đó sẽ đề xuất mô hình hồi quy và các biến đại diện cho mục tiêu nghiên cứu. Chương 3 là phần trình bày mô hình kinh tế lượng những ảnh hưởng cố định (FEM) và mô hình những ảnh hưởng ngẫu nhiên (REM) với các dữ liệu đã thu thập và tổng hợp từ 46 tỉnh thành trong mười năm (2005 – 2014).
Chương 4 là phần đưa ra phân tích kết quả tính toán hồi quy của mô hình kinh tế lượng, từ đó xác định các yếu và trọng số của chúng tác động đến quyết định phân bổ ngân sách; phân tích, so sánh các yếu tố tác động để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Chương 5 là phần kết luận và đưa ra các khuyến nghị chính sách. 4 CHƯƠNG 2 - CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH CHUYỂN GIAO NGÂN SÁCH CỦA TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM 2.1 Chuyển giao ngân sách liên chính quyền 2.1 Tổng quan Theo Roy Bahl (2000) thì chuyển giao ngân sách liên chính quyền giữ vai trò nền tảng trong cơ cấu tài chính của chính quyền địa phương ở các nước đang phát triển, nó là những cấu phần cho phép chính quyền trung ương kiểm soát hệ thống tài chính quốc gia bằng cách thiết lập các kênh để cung cấp tài chính cho chính quyền địa phương. Đồng thời nó tạo ra động cơ khuyến khích và cơ chế trách nhiệm giải trình, ảnh hưởng đến sự quản lý tài khóa, tính công bằng và hiệu quả của hàng hóa công cũng như trách nhiệm giải trình đối với công dân của chính quyền địa phương4.
Còn Serdar Yilmaz (2003) thì cho rằng chuyển giao ngân sách liên chính quyền là một cấu phần thiết yếu của hệ thống tài khóa liên chính quyền. Ngân sách chuyển giao của chính quyền trung ương chiếm tỷ trọng rất lớn trong cơ cấu ngân sách của chính quyền địa phương vì vậy cách thức chuyển giao ngân sách liên chính quyền ảnh hưởng rất lớn đến tính công bằng và hiệu quả trong việc cung cấp hàng hóa công cũng như tình hình sức khỏe tài chính ở chính quyền địa phương5. Đồng thời, động cơ và cách thức chuyển giao của chính quyền trung ương ảnh hưởng sâu sắc đến sự phân bổ hàng hóa công, kết quả kinh tế vĩ mô và các kết quả về chính trị của các quốc gia (Treisman 1999; Oates 1999: Rodden và Wibbels 2002). Mặt khác, chuyển giao ngân sách liên chính quyền còn là một sự thỏa hiệp mà trong đó cho phép chính quyền trung ương nắm quyền kiểm soát các chính quyền địa phương thông qua việc nắm quyền quyết định phân bổ nguồn lực tài chính từ ngân sách của chính quyền trung ương cho ngân sách của các chính quyền địa phương6.
Tuy nhiên, theo V.Liu (2010) thì đối với các quốc gia có mô hình chính trị như Trung Quốc thì động cơ khuyến khích cho việc chuyển giao liên chính quyền đơn thuần là các mục tiêu chính trị như: ngăn chặn sự nổi dậy của dân chúng, đảm bảo 4 Anwar Shah , A Practitioner’s Guide to Intergovernmental Fiscal Transfers 5 Serdar Yilmaz, Intergovernmental Transfers: Concepts and Policy Issues 6 Roy Bahl, Intergovernmental Transfers in Developing and Transition Countries:Principles and Practice 5 chính quyền địa phương đứng về phía chế độ chống lại phe đối lập, ban thưởng cho những vùng phát triển nhanh và đảm bảo, nâng cao các tiêu chuẩn về giáo dục Như vậy có thể nói, chuyển giao ngân sách liên chính quyền có các mục đích cơ bản là đảm bảo tính công bằng về hưởng thụ hàng hóa công của công dân các địa phương, đảm bảo tính hiệu quả của việc chuyển giao ngân sách liên chính quyền và hướng đến các mục tiêu chính trị nhằm bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền lực chính trị của chính quyền trung ương.2 Phân loại Theo Anwar Shah thì chuyển giao ngân sách liên chính quyền có thể được chia thành hai loại đó là chuyển giao không điều kiện (chuyển giao tổng quát) và chuyển giao có điều kiện (chuyển giao có mục tiêu đặc biệt)7: 2.1 Chuyển giao không điều kiện Chuyển giao không điều kiện cung cấp ngân sách hỗ trợ cho các mục đích tổng quát, không kèm theo các ràng buộc và thường được ủy quyền cho chính quyền địa phương tự chủ trong việc phân bổ chi tiêu cho hàng hóa và dịch vụ công cụ thể. Mục tiêu của phương thức chuyển giao không điều kiện là tăng cường khả năng chi tiêu của cính quyền địa phương nhưng vẫn đảm bảo duy trì sự tự chủ và đảm bảo tính công bằng của các địa phương. Cụ thể, chuyển giao không điều kiện đơn giản chỉ làm tăng ngân sách (nguồn lực) của đối tượng được nhận (chính quyền địa phương) nên chỉ gây ra hiệu ứng thu nhập như hình bên dưới (Hình 2. Chuyển giao không điều kiện làm cho đường ngân sách AB dịch sang bên phải bằng nguồn lực được chuyển giao (AD = BC) lên vị trí đường CD.
Như vậy, chuyển giao không điều kiện giúp tăng độ thỏa dụng của những công dân ở địa phương được nhận chuyển giao do thụ hưởng hàng hóa và dịch vụ công nhiều hơn do nguồn lực được chuyển giao nhưng vẫn đảm bảo theo mô hình tiêu dùng ban đầu vì chuyển giao không có điều kiện không gây ra hiệu ứng thay thế, do giá tương đối của các loại hàng hóa công không thay đổi, nên không làm biến dạng hành vi của chính quyền địa phương hay công dân thụ hưởng. Có thể nói, chuyển giao không điều kiện đảm bảo tính hiệu quả vì không gây ra tổn thất vô ích. 7 Anwar Shah , A Practitioner’s Guide to Intergovernmental Fiscal Transfers 6 Hình 2.1: Ảnh hưởng của chuyển giao không điều kiện Hàng hóa công khác D A O B C Hàng hóa công A (Nguồn: Shah 1994b) 2.2 Chuyển giao có điều kiện (chuyển giao có mục tiêu đặc biệt) Chuyển giao điều kiện hướng đến tạo động cơ khuyến khích để chính quyền địa phương đảm đương một chương trình hay hoạt động nào đó mà chính quyền trung ương mong muốn thực hiện. Thông thường, chuyển giao có điều kiện chỉ nhắm đến những đối tượng chi tiêu cụ thể cho những hàng hóa công riêng biệt mà chính quyền trung ương muốn chính quyền địa phương đảm nhận cung cấp.
Những tiêu chí để xác định đối tượng chi tiêu sẽ được chuyển giao có điều kiện chính là điều kiện đầu vào để chính quyền trung ương lựa chọn và hình thức chuyển giao này được gọi là chuyển giao có điều kiện dựa vào đầu vào. Ngoài ra, chuyển giao có điều kiện có thể yêu cầu các ràng buộc về kết quả đầu ra mong muốn cho việc việc chuyển giao ngân sách, hình thức này được gọi là chuyển giao có điều kiện dựa vào đầu ra. Chuyển giao có điều kiện dựa vào đầu ra thường mang tính kém năng suất và tùy nghi trong khi chuyển giao có 7 điều kiện dựa vào đầu ra có thể đạt được mục tiêu của chính quyền trung ương nhưng vẫn duy trì tính tự chủ cho chính quyền địa phương8. Chuyển giao có điều kiện đôi khi kết hợp với yêu cầu về ngân sách đối ứng của chính quyền địa phương.
Nghĩa là chính quyền trung ương chỉ hỗ trợ một tỷ lệ nhất định trong ngân sách chi tiêu cho một loại hàng hóa công nào đó của chính quyền địa phương, phần còn lại chính quyền địa phương phải dùng nguồn lực của mình tài trợ cho chi tiêu đó. Hình thức chuyển giao có điều kiện có yêu cầu đối ứng cũng được phân biệt thành hai loại cụ thể sau. Thứ nhất, chuyển giao có điều kiện với yêu cầu đối ứng mở, trong đó với tỷ lệ nhất định, chính quyền trung ương tài trợ cho mọi mức độ chi tiêu của hàng hóa công được chính quyền trung ương hỗ trợ. Thứ hai, chuyển giao có điều kiện với yêu cầu đối ứng đóng, trong đó với một tỷ lệ cụ thể, chính quyền trung ương chỉ tài trợ cho một mức độ chi tiêu nhất định của hàng hóa được chính quyền trung ương hỗ trợ.
Mức độ ảnh hưởng của các hình thức chuyển giao có điều kiện với yêu cầu khác nhau đến tính hiệu quả của việc chuyển giao ngân sách (tổn thất vô ích của việc chuyển giao ngân sách gây ra), cụ thể: Chuyển giao có điều kiện không yêu cầu đối ứng: Như trong hình 2.2 bên dưới, khi có chuyển giao có điều kiện nhưng không yêu cầu đối ứng, đường ngân sách AB dịch lên thành đường ADC, khi đó lượng hàng hóa công được hỗ trợ ít nhất cũng được thu được ở mức OE. Hình thức này chỉ gây ra biến dạng hành vi do hiệu ứng thay thế (giá tương đối của hàng hóa được hỗ trợ giảm) trong giới hạn số lượng hàng hóa công được trợ cấp (OE), ngoài giới hạn đó thì nó chỉ gây ra hiệu ứng thu nhập và không gây tổn thất vô ích do biến dạng hành vi. 8 Anwar Shah , A Practitioner’s Guide to Intergovernmental Fiscal Transfers 8 Hình 2.2: Ảnh hưởng của chuyển giao có điều kiện không yêu cầu đối ứng Hàng hóa công khác A D O E B C Hàng hóa công được hỗ trợ (Nguồn: Shah 1994b) Chuyển giao có điều kiện với yêu cầu đối ứng mở: Như trong hình 2.3, đường AB chỉ báo cho đường ngân sách trường hợp không có chuyển giao; đường AC chỉ báo cho đường ngân sách trường hợp chuyển giao có kiều kiện với tỷ lệ chuyển giao là 25%, đối ứng của chính quyền địa phương là 75%. Như vậy, khi có chuyển giao có điều kiện và có yêu cầu đối ứng mở thì đường ngân sách dịch chuyển từ AB lên AC.
Khi đó, chuyển giao có điều kiện có yêu cầu đối ứng mở gây ra hai hiệu ứng, thứ nhất là hiệu ứng thu nhập (do được chuyển giao thêm nguồn lực) và thứ hai là hiệu ứng thay thế (do giá tương đối của hàng hóa được hỗ trợ giảm giá một cách tương đối so với hàng hóa khác). Cả hai hiệu ứng đều làm cho việc sử dụng hàng hóa công được hỗ trợ tăng thêm, tuy nhiên nó làm biến dạng hành vi so với mô hình tiêu dùng ban đầu, vì vậy gây ra tổn thất vô ích, dẫn đến giảm tính hiệu quả của hình thức chuyển giao này.3: Ảnh hưởng của chuyển giao có điều kiện có yêu cầu đối ứng mở Hàng hóa công khác A O B C Hàng hóa công được hỗ trợ (Nguồn: Shah 1994b; McMillan, Shah, và Gillen 1980) Chuyển giao có điều kiện với yêu cầu đối ứng đóng: Như trong hình 2.