CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU. Bối cảnh và vấn đề chính sách. Câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu. Phương pháp, đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Cấu trúc luận văn. 4 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH. Lý thuyết cổ tức. Trường phái cổ tức không liên quan.
Quan điểm về cổ tức có liên quan. Cổ tức và vấn đề bất cân xứng thông tin trong lĩnh vực ngân hàng. Khung phân tích. Bảo trợ chính phủ và dịch chuyển rủi ro liên quan đến cổ tức ngân hàng.
Vai trò của giá trị vốn hóa và vấn đề cổ tức ngân hàng. Lựa chọn ngược và vấn đề cổ tức ngân hàng. 10 CHƯƠNG 3 CHÍNH SÁCH CỔ TỨC CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM. Khó khăn chung của hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2009-2011.
Tình hình chung về chính sách cổ tức của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam giai đoạn 2009-2011. So sánh chính sách cổ tức của các ngân hàng thương mại cổ phần với các tổ chức phi tài chính. So sánh chính sách cổ tức giữa các ngân hàng gặp khó khăn tài chính với các ngân hàng khác. So sánh chính sách cổ tức của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam với các ngân hàng trên thế giới.
28 CHƯƠNG 4 KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH VÀ KẾT LUẬN. Khuyến nghị chính sách. 35 TÀI LIỆU THAM KHẢO. MỘT SỐ KHÁI NIỆM.
DANH SÁCH CÁC NGÂN HÀNG NHÓM 1. DANH SÁCH CÁC NGÂN HÀNG NHÓM 2. MÔ TẢ SỐ LIỆU VÀ CÁCH TÍNH. PHÂN TÍCH MỘT SỐ TÌNH HUỐNG.
45 vi DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3-1 Tỷ lệ trả cổ tức của các ngân hàng (%). 14 Biểu đồ 3-2 Lợi nhuận và cổ tức của 40 ngân hàng (VNĐ). 18 Biểu đồ 3-3 Tỷ lệ cổ tức/lợi nhuận của các ngân hàng (%). 19 Biểu đồ 3-4 So sánh Tỷ lệ cổ tức/lợi nhuận của các lĩnh vực (%).
21 Biểu đồ 3-5 So sánh Tỷ lệ cổ tức/lợi nhuận trung bình cộng của các lĩnh vực (%). 22 Biểu đồ 3-6 So sánh Tỷ lệ cổ tức/lợi nhuận bình quân trọng số của các lĩnh vực (%). 23 Biểu đồ 3-7 Tỷ lệ cổ tức/lợi nhuận các nhóm ngân hàng (%). 26 Biểu đồ 3-8 Trung bình cộng Tỷ lệ cổ tức/lợi nhuận các nhóm ngân hàng (%).
26 Biểu đồ 3-9 Tỷ lệ cổ tức/lợi nhuận trung bình trọng số các nhóm ngân hàng (%). 27 Biểu đồ 3-10 Chi trả cổ tức hàng quý của các NH Mỹ (tỷ USD). 29 Biểu đồ 3-11 Tỷ lệ cổ tức hàng quý so với tổng tài sản. 30 vii DANH MỤC CÁC TỪ, KÝ HIỆU VIẾT TẮT BCB Bản cáo bạch BCTC Báo cáo tài chính BCTN Báo cáo thường niên CAR Hệ số an toàn vốn tối thiểu (Capital Adequacy Ratio) CCI Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Công nghiệp - Thương mại Củ Chi CCL Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Đô thị Dầu khí Cửu Long CSH Chủ sở hữu CTCK Công ty Chứng khoán DIG Tổng Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Xây dựng DN Doanh nghiệp DXG Công ty Cổ phần Dịch vụ và Xây dựng Địa ốc Đất Xanh EPS Thu nhập trên mỗi cổ phần (Earning Per Share) FPT Công ty cổ phần FPT HNX Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội HSX Sở Giao dịch Chứng khoán TPHCM NPL Nợ xấu (Non-Performing Loan) NPV Giá trị hiện tại ròng (Net Present Value) NTL Công ty Cổ phần Phát triển Đô thị Từ Liêm NH Ngân hàng NHNN Ngân hàng Nhà nước NHTMCP Ngân hàng Thương mại Cổ phần PVFC Công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí TCTD Tổ chức tín dụng VIC Công ty Cổ phần Vincom VN Việt Nam viii DANH SÁCH CÁC NGÂN HÀNG STT Tên Viết tắt 1 NHTMCP An Bình ABB 2 NHTMCP Á Châu ACB 3 NH Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam AGRB 4 NHTMCP Bắc Á BAB 5 NHTMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam BIDV 6 NHTMCP Bảo Việt BVB 7 NHTMCP Công Thương Việt Nam CTG 8 NHTMCP Đại Á DAB 9 NHTMCP Đông Á EAB 10 NHTMCP XNK Việt Nam EIB 11 NHTMCP Đệ Nhất FCB 12 NHTMCP Gia Định GDB 13 NHTMCP Dầu khí Toàn cầu GPB 14 NHTMCP Nhà Hà Nội HBB 15 NHTMCP Phát triển Nhà TPHCM HDB 16 NHTMCP Kiên Long KLB 17 NHTMCP Bưu điện Liên Việt LPB 18 NHTMCP Quân Đội MBB 19 NHTMCP Phát triển Mê Kông MDB 20 NHTMCP Phát triển Nhà Đồng bằng Sông Cửu Long MHB 21 NHTMCP Hàng Hải Việt Nam MSB 22 NHTMCP Nam Á NAB 23 NHTMCP Nam Việt NVB 24 NHTMCP Phương Đông OCB 25 NHTMCP Đại Dương OJB 26 NHTMCP Xăng Dầu Petrolimex PGB ix STT Tên Viết tắt 27 NHTMCP Phương Nam PNB 28 NHTMCP Sài Gòn SCB 29 NHTMCP Đông Nam Á SEAB 30 NHTMCP Sài Gòn Công thương SGB 31 NHTMCP Sài Gòn - Hà Nội SHB 32 NHTMCP Sài Gòn Thương Tín STB 33 NHTMCP Kỹ Thương Việt Nam TCB 34 NHTMCP Việt Nam Tín Nghĩa TNB 35 NHTMCP Tiên Phong TPB 36 NHTMCP Đại Tín TRB 37 NHTMCP Việt Á VAB 38 NHTMCP Ngoại Thương Việt Nam VCB 39 NHTMCP Quốc Tế Việt Nam VIB 40 NHTMCP Việt Nam Thịnh Vượng VPB 41 NHTMCP Việt Nam Thương Tín VTB 42 NHTMCP Phương Tây WEB 1 GIỚI THIỆU 1.
Bối cảnh và vấn đề chính sách Chính sách cổ tức là một trong mười vấn đề khó nhất và vẫn chưa tìm ra cách giải quyết trong các nghiên cứu kinh tế tài chính (Brealey và Myers, 2003, trích trong Al-Kuwari, 2010). Với những đặc tính khác biệt của ngành ngân hàng (NH), vấn đề cổ tức lại càng trở nên khó khăn hơn đối với các nhà nghiên cứu kinh tế tài chính và các cơ quan điều hành chính sách. Ở Việt Nam (VN), trong giai đoạn 2009-2011 chính sách cổ tức của các NH gây ra nhiều tranh luận. Giữa lúc kinh tế khó khăn, doanh nghiệp (DN) lao đao vì lãi suất thì các NH vẫn lãi “khủng” (Ánh Hồng – Hải Đăng, 2011) từ hoạt động cho vay, đồng thời dành tỷ lệ lớn trong lợi nhuận để trả cổ tức cao cho cổ đông (Nguyễn Quang, 2011).
Tình trạng trả cổ tức cao của các NH diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam (VN) nói riêng gặp rất nhiều khó khăn do chịu ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giảm mạnh từ 8,46% năm 2007 xuống còn 5,89% năm 2011, trong khi lạm phát tăng cao từ 8,30% năm 2007 lên 18,68% năm 2011 (The World Bank, 2013). Đối mặt với những bất ổn kinh tế vĩ mô, nhất là vấn đề lạm phát, chính phủ đã thực hiện hàng loạt các biện pháp thắt chặt kinh tế. Các chính sách này đã gây ra tình trạng ách tắc tín dụng và gây nhiều khó khăn cho cả NH và DN.
Lãi suất tăng cao khiến các DN không thể huy động được vốn, tình trạng thiếu vốn hoạt động trở nên căng thẳng, các DN hoạt động cầm chừng, hàng nghìn DN không thể tiếp tục hoạt động và buộc phải phá sản (Nguyễn Thị Hoài Lê, 2013). Hệ thống NH – huyết mạch của nền kinh tế có nhiều trục trặc. Tình trạng thanh khoản hết sức căng thẳng, lãi suất liên NH bị đẩy lên rất cao (có thời điểm lên đến gần 40%/năm kỳ hạn một tháng) (Nhuệ Mẫn, 2011). Đặc biệt hơn là vấn đề nợ xấu ngày càng gia tăng, một số NH mất khả năng thanh toán và buộc phải sáp nhập để tránh rủi ro đổ vỡ cho toàn hệ thống.
Tái cơ cấu hệ thống NH trở thành vấn đề cấp thiết của chính phủ với mục tiêu xây dựng hệ thống NH hoạt động an toàn, hiệu quả và phát triển vững chắc. Chính phủ phải sử dụng các gói cứu trợ và các chính sách ưu đãi để hỗ trợ cho các NH hoạt động ổn định. Chính phủ không để cho NH nào phá sản vì e ngại ảnh hưởng lan truyền của hệ thống ngân hàng – sẽ gây hoang mang trong dân chúng, làm mất lòng tin vào chính phủ. Quan điểm này được thể hiện rõ trong đề án tái cơ cấu hệ thống NH của chính phủ.
Đề 2 án đưa ra những chính sách cho vay hỗ trợ thanh khoản đối với hệ thống NH thương mại ngoài nhà nước, hoặc bổ sung vốn cho các NH thương mại nhà nước (Thủ tướng Chính phủ, 2012) Những biện pháp này đã lấy đi phần ngân sách rất lớn của chính phủ. Vấn đề quan trọng hơn nữa là hiệu quả của các gói cứu trợ lại không được đề cập rõ ràng. Thực tế cho thấy, một mặt các NH luôn nói rằng họ gặp rất nhiều khó khăn và cần hỗ trợ của nhà nước, mặt khác những con số lợi nhuận lớn và tỷ lệ trả cổ tức cao được công bố ở hầu hết các NH. Điển hình là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nhà Hà Nội (HBB) đã dành tới 178% lợi nhuận thu được để trả cổ tức cho cổ đông trong năm 2011 (HBB, 2011), con số này ở Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phương Tây (WEB) là 124% (WEB, 2011), và đến nay HBB đã buộc phải sáp nhập, còn WEB cũng thuộc diện phải hợp nhất, sáp nhập.
Theo như các con số đã công bố thì công chúng sẽ đánh giá các NH đã vượt lên trên mọi khó khăn chung của nền kinh tế, không giống với với các lĩnh vực khác ở đó các DN đang đối mặt với muôn vàn khó khăn và nguy cơ phá sản có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Hai lĩnh vực có trạng thái hoạt động kinh doanh hoàn toàn trái ngược. Nhưng thực tế không chắc như các các NH đã công bố, mà rất có thể tồn tại tình trạng “lãi giả lỗ thật” tại các NH. Họ có thể dùng các kỹ thuật về tài chính kế toán để biến các con số trên báo cáo trở nên đẹp hơn.
Từ đó họ lấy tiền cứu trợ của chính phủ (hay đúng hơn là của những người nộp thuế) cả dưới dạng ngầm ẩn hay hiện hữu, và của người gửi tiền để trả cho các cổ đông thông qua hình thức cổ tức tiền mặt. Hành động này sẽ làm hao mòn nguồn vốn của NH, gây ra rủi ro cho hoạt động của NH và rủi ro này lại được chuyển cho người gửi tiền và cơ quan bảo hiểm tiền gửi (bản chất cuối cùng cũng là người nộp thuế). Vì vậy đây là vấn đề mà các nhà kinh tế cũng như người làm chính sách cần phải quan tâm tìm hiểu. Từ đó đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm góp phần đưa hệ thống NH nói riêng và nền kinh tế nói chung phát triển một cách ổn định và bền vững.