CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Chương này sẽ lược khảo các vấn đề lý thuyết liên quan đến chính sách cổ tức, các nghiên cứu trước đó về chính sách cổ tức. Các chính sách cổ tức trong thực tiễn 1. Chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động Chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động xác nhận rằng một doanh nghiệp nên giữ lại lợi nhuận khi nào mà doanh nghiệp có các cơ hội đầu tư hứa hẹn các tỷ suất sinh lợi cao hơn tỷ suất sinh lợi mong đợi mà các cổ đông đòi hỏi. Nếu như doanh nghiệp có thể đầu tư lợi nhuận của mình để đạt được tỷ suất sinh lợi cao hơn tỷ suất sinh lợi mong đợi mà các cổ đông kỳ vọng thì doanh nghiệp không nên chi trả cổ tức (theo chính sách giữ lại thụ động) bởi lẽ việc chi trả cổ tức sẽ dẫn đến kết cuộc hoặc là doanh nghiệp hy sinh các cơ hội đầu tư có thể chấp nhận được hoặc phải huy động thêm vốn cổ phần cần thiết từ các thị trường vốn bên ngoài tốn kém hơn nhiều so với lợi nhuận giữ lại.
Lý thuyết giữ lại lợi nhuận ngụ ý là chi trả cổ tức thay đổi từ năm này sang năm khác và tùy thuộc vào các cơ hội đầu tư sẵn có. Hầu hết các doanh nghiệp cố gắng duy trì một chi trả cổ tức tương đối ổn định theo thời gian. Tất nhiên điều này không có nghĩa rằng các doanh nghiệp đã bỏ qua những nguyên lý về chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động trong việc thực hành các quyết định phân phối bởi vì cổ tức có thể được duy trì ổn định hàng năm theo hai cách. Đầu tiên, doanh nghiệp có thể giữ lại lợi nhuận với tỷ lệ khá cao trong những năm có nhu cầu vốn cao.
Nếu công ty tiếp tục tăng trưởng, các giám đốc có thể tiếp tục thực hiện chiến lược này mà không nhất thiết phải giảm cổ tức. Thứ hai là doanh nghiệp có thể vay vốn cho nhu cầu vốn mà mình cần và do đó tăng tỷ lệ nợ trên vốn cổ phần lên một cách tạm thời để tránh trường hợp giảm cổ tức. Doanh nghiệp cũng cần phải giữ lại lợi nhuận trong những năm sắp tới để đẩy tỷ số nợ trên vốn cổ phần lại về mức thích hợp. Rốt cuộc, một doanh nghiệp có nhiều cơ hội đầu tư tăng 4 trưởng trong nhiều năm có thể bị buộc phải cắt giảm cổ tức hoặc bán cổ phần mới nhằm thỏa mãn các nhu cầu tài trợ và duy trì cấu trúc vốn tối ưu.
Nguyên lý giữ lại lợi nhuận thụ động cũng đề xuất là công ty “tăng trưởng” thường có tỷ lệ chi trả cổ tức thấp hơn các doanh nghiệp đang trong giai đoạn sung mãn (bão hòa). TS Trần Ngọc Thơ (2007), Giáo trình Tài chính doanh nghiệp hiện đại, NXB. Chính sách cổ tức tiền mặt ổn định Có nhiều bằng chứng cho thấy rằng hầu hết các doanh nghiệp và các cổ đông thích chính sách cổ tức tương đối ổn định hơn. Tính ổn định được đặc trưng bằng một sự miễn cưỡng trong việc giảm lượng tiền mặt chi trả cổ tức từ kỳ này sang kỳ khác.
Tương tự, những gia tăng trong tỷ lệ cổ tức thường vẫn bị trì hoãn cho đến khi nào các giám đốc tài chính hân hoan công bố rằng các khoản lợi nhuận trong tương lai đủ cao đến mức độ thỏa mãn cổ tức lớn hơn. Như vậy, mặc dù tỷ lệ cổ tức có khuynh hướng đi theo sau một gia tăng trong lợi nhuận thì cũng có một khuynh hướng trì hoãn lại trong một chừng mực nào đó. Có nhiều lý do tại sao các nhà đầu tư thích cổ tức ổn định. Chẳng hạn, nhiều nhà đầu tư cảm thấy các thay đổi cổ tức có nội dung hàm chứa thông tin - họ đánh đồng các thay đổi trong mức cổ tức của một doanh nghiệp với khả năng sinh lợi.
Một cắt giảm cổ tức có thể được diễn dịch như một tín hiệu là tiềm năng lợi nhuận về dài hạn của doanh nghiệp đã sụt giảm. Tương tự, một gia tăng trong lợi nhuận được coi như một minh chứng của dự kiến rằng lợi nhuận tương lai sẽ gia tăng. Ngoài ra, nhiều cổ đông cần và lệ thuộc vào một dòng cổ tức không đổi cho các nhu cầu lợi nhuận tiền mặt của mình. Dù họ có thể bán bớt một số cổ phần như một nguồn thu nhập hiện tại khác nhưng do các chi phí giao dịch và các lần bán với lô lẻ cho nên phương án này không thể thay thế một cách hoàn hảo cho lợi nhuận cổ tức đều đặn.
5 Một vài giám đốc tài chính thấy rằng một chính sách cổ tức tăng trưởng và ổn định thường có xu hướng làm giảm sự bất trắc của nhà đầu tư về các dòng cổ tức tương lai. Họ tin rằng một nhà đầu tư sẽ trả một giá cao hơn cho cổ phần của một doanh nghiệp chi trả cổ tức ổn định, do đó làm giảm chi phí sử dụng vốn cổ phần của doanh nghiệp. TS Trần Ngọc Thơ (2007), Giáo trình Tài chính doanh nghiệp hiện đại, NXB. Các chính sách chi trả cổ tức khác Một vài doanh nghiệp chấp nhận một chính sách cổ tức có tỷ lệ chi trả không đổi.
Nếu lợi nhuận doanh nghiệp thay đổi nhiều từ năm này sang năm khác, cổ tức cũng dao động theo. Các doanh nghiệp khác chọn chính sách chi trả một cổ tức nhỏ hàng quý cộng với cổ tức thưởng thêm vào cuối năm. Chính sách này đặc biệt thích hợp cho một doanh nghiệp có thành tích lợi nhuận biến động, và nhu cầu tiền mặt biến động giữa năm này và năm khác, hay cả hai. Ngay cả khi lợi nhuận thấp, các nhà đầu tư của doanh nghiệp vẫn có thể trông cậy vào chi trả cổ tức đều đặn của họ.
Khi lợi nhuận cao, và không có nhu cầu sử dụng ngay nguồn tiền dôi ra này, doanh nghiệp công bố một cổ tức thưởng vào cuối năm. Chính sách này cho ban điều hành một khả năng linh hoạt để giữ lại lợi nhuận khi cần mà vẫn thỏa mãn được các nhà đầu tư muốn nhận một mức chi trả cổ tức “bảo đảm”. Một vài doanh nghiệp chọn chi trả cổ tức bằng cổ phiếu hoặc chi trả cổ tức bằng tài sản. TS Trần Ngọc Thơ (2007), Giáo trình Tài chính doanh nghiệp hiện đại, NXB.
Chính sách cổ tức đối với doanh nghiệp nhỏ Các doanh nghiệp nhỏ có những khác biệt đáng kể với các doanh nghiệp lớn hoặc là các doanh nghiệp đang trong giai đoạn bão hòa. Tỷ lệ chi trả cổ tức của các doanh nghiệp lớn thường cao hơn tỷ lệ chi trả cổ tức của các doanh nghiệp nhỏ. Lý do khác biệt trong chính sách cổ tức của các doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ là: - Hầu như các doanh nghiệp nhỏ đang ở trong giai đoạn tăng trưởng nhanh của chu kỳ kinh doanh của mình. Trong giai đoạn sơ khai này, doanh nghiệp thường thiếu vốn cần thiết để tài trợ các đầu tư dự định và gia tăng vốn luân chuyển.
Các doanh nghiệp nhỏ thường bị hạn chế trong tiếp cận với các thị trường vốn, so với các doanh nghiệp lớn. Một doanh nghiệp nhỏ, chịu sự kiểm soát chặt chẽ của một số ít cổ đông khó huy động vốn cổ phần hơn là giữ lại lợi nhuận. Nếu có thể bán cổ phần mới, các chủ sở hữu phải chịu rủi ro mất quyền kiểm soát. Ngoài ra, do phát sinh chi phí giao dịch nên việc cung ứng cổ phần của các doanh nghiệp nhỏ thường rất tốn kém.
- Nhiều doanh nghiệp nhỏ do chỉ một hay một vài chủ sở hữu nắm giữ, và chính sách cổ tức của các doanh nghiệp này thường phản ánh ưu tiên lợi nhuận của các cá nhân này. Nếu giữ lại lợi nhuận, thuế được hoãn cho đến khi phân phối lợi nhuận vào một lúc nào đó trong tương lai hay cho đến khi bán doanh nghiệp. Như vậy, rõ ràng có các khác biệt đáng kể giữa chính sách cổ tức của các doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ. Các doanh nghiệp nhỏ thường chi trả một tỷ lệ phần trăm lợi nhuận cho cổ tức thấp hơn các doanh nghiệp lớn vì các doanh nghiệp nhỏ có xu hướng tăng trưởng nhanh và bị hạn chế tiếp cận các thị trường vốn để tìm các nguồn vốn khác hỗ trợ cho tăng trưởng của mình.
TS Trần Ngọc Thơ (2007), Giáo trình Tài chính doanh nghiệp hiện đại, NXB. Các nghiên cứu về chính sách cổ tức 1. Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa chính sách cổ tức và thu nhập, lợi nhuận DeAngelo, DeAngelo và Skinner (1992) phân tích mối quan hệ giữa cổ tức và các khoản lỗ và thông tin chuyển tải bằng cách thay đổi cổ tức về thu nhập. Họ kiểm tra hành vi chia cổ tức của 167 công ty NYSE với ít nhất một khoản lỗ hàng năm trong giai đoạn 1980 - 1995 và của 440 doanh nghiệp không có lỗ trong cùng thời kỳ, nơi mà tất cả các công ty đã có một hồ sơ theo dõi nhất quán của mười hoặc hơn 10 năm có lợi nhuận và thu nhập dương.
Họ nhận ra rằng 50,9% trong tổng số 167 công ty có ít nhất một năm lỗ trong giai đoạn 1980 - 1995 giảm cổ tức, so với 1% của 440 doanh nghiệp không lỗ. Phát hiện của họ hỗ trợ giả thuyết tín hiệu trong đó thay đổi cổ tức cải thiện khả năng dự đoán thu nhập tương lai. Benartzi, Michaely, Thaler (1997) phân tích các vấn đề của việc thay đổi cổ tức báo hiệu tương lai hoặc quá khứ. Mẫu là 7186 thông báo chia cổ tức được thực hiện bởi các công ty NYSE hoặc AMEX trong giai đoạn 1979 - 1991, họ tìm thấy một mối quan hệ hiện tại và quá khứ giữa thay đổi cổ tức và thu nhập.
Phân tích của họ cũng cho thấy trong hai năm sau tăng cổ tức, thay đổi thu nhập là không liên quan đến dấu hiệu và độ lớn của thay đổi cổ tức. Lee và Ryan (2002) phân tích các giả thuyết tín hiệu cổ tức và vấn đề chỉ đạo của quan hệ nhân quả giữa thu nhập và cổ tức - cho dù thu nhập là nguyên nhân của cổ tức hoặc ngược lại. Mẫu gồm 133 công ty khởi xướng chia cổ tức và 165 công ty ngưng chi trả cổ tức, họ thấy rằng trả cổ tức bị ảnh hưởng bởi hiệu suất của thu nhập hiện tại và dòng tiền mặt tự do. Họ cũng tìm thấy bằng chứng tăng trưởng thu nhập dương (âm) trước khởi xướng chia cổ tức (ngưng chi trả cổ tức).