phần mở đầu và kết luận, kết cấu luận án gồm 5 chƣơng đƣợc thiết kế nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố. Tác giả thực hiện hệ thống các công trình nghiên cứu đã đƣợc công bố liên quan đến kế toán công cụ tài chính phái sinh, làm cơ sở để tác giả xác định khe trống nghiên cứu. Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết. Tác giả tiến hành hệ thống cơ sở lý thuyết về kế toán công cụ tài chính phái sinh nhằm làm sáng tỏ ý nghĩa của kế toán công cụ tài chính phái sinh trong phạm vi phòng ngừa rủi ro; và xác định các lý thuyết nền tảng làm cơ sở, giải thích cho các nhân tố trong mô hình nghiên cứu dự kiến và phát triển các giả thiết nghiên cứu của luận án.
Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu. Tác giả tiến hành xây dựng một quy trình nghiên cứu hợp lý và áp dụng phƣơng pháp nghiên cứu hỗn hợp nhằm hoàn thành mục tiêu đề ra. 10 Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận. Tác giả trình bày kết quả và bàn luận kết quả nghiên cứu định tính và định lƣợng từ quá trình kiểm định mô hình nghiên cứu Chƣơng 5: Kết luận và kiến nghị.
Tác giả kết luận về kết quả nghiên cứu định tính, định lƣợng, đồng thời vận dụng kết quả này, nghiên cứu đƣa ra một số kiến nghị đối với cơ quan ban hành và một số chính sách quản trị ở doanh nghiệp. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ 1. Giới thiệu Mục đích của chƣơng tổng quan nhằm hệ thống các công trình nghiên cứu đã đƣợc công bố liên quan đến kế toán công cụ tài chính phái sinh, làm cơ sở để tác giả xác định khe trống nghiên cứu. Kết cấu của chƣơng 1 đƣợc thiết kế thành 5 phần.
Tuần tự tác giả thực hiện nhƣ sau: phần 1 Giới thiệu; phần 2 Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố trên thế giới; phần 3 Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố trong nƣớc; phần 4 Nhận định về các công trình nghiên cứu trƣớc và xác định khe trống nghiên cứu; và phần 5 Kết luận. Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố trên thế giới. Trên thế giới, sự gia tăng sử dụng công cụ tài chính phái sinh không thể chối cãi. Mức độ sử dụng công cụ tài chính phái sinh theo nghiên cứu của Bartov và cộng sự (1996) là 39% ở Hoa Kỳ; 53% ở New Zealand (Berkman và cộng sự, 1997) và Thụy Điển là 52% (Alkeback và Hagelin, 1999); 80% doanh nghiệp sử dụng để tự phòng ngừa rủi ro, 44% sử dụng để phòng ngừa rủi ro và có trình bày trên Báo cáo tài chính, 67% quan tâm đến hạch toán kế toán công cụ tài chính phái sinh (Bodnar và cộng sự, 1998).
Theo nghiên cứu của Bodnar và Gebhardt (1999), khả năng sử dụng sản phẩm phái sinh ở Mỹ là 57%, ở Đức là 78%, phái sinh ngoại tệ đƣợc sử dụng phổ biến nhất, theo sau là lãi suất, hàng hóa; theo Sheedy (2001) thì Mỹ chiếm 50%, Hồng Kong 81%, Singapore 75%; 59% ở Thụy Điển (Alkeback và cộng sự, 2006); 67% ở Anh (El-Masry, 2006). Qua hàng loạt các hoạt động nghiên cứu về mức độ sử dụng công cụ tài chính phái sinh, cũng nhƣ các sản phẩm phái sinh ở mỗi quốc gia qua từng thời kỳ, có thể thấy đƣợc tầm quan trọng của công cụ tài chính phái sinh trong nền kinh tế toàn cầu. Chính từ việc các doanh nghiệp sử dụng các công cụ tài chính phái sinh cho hoạt động phòng ngừa rủi ro, dẫn đến cần phải có các quy chuẩn về kế toán công cụ tài chính và công cụ tài chính phái sinh là tất yếu. Trong phần tổng quan 12 các công trình nghiên cứu đã công bố, tác giả tập trung xác định sự cần thiết của kế toán công cụ tài chính phái sinh, thông qua làm rõ: (i) Mục đích, ý nghĩa của công cụ tài chính phái sinh.
(ii) Nhu cầu cần có kế toán cho các doanh nghiệp sử dụng công cụ tài chính phái sinh. (iii) Kế toán công cụ tài chính phái sinh trong doanh nghiệp.1 Mục đích, ý nghĩa của việc sử dụng công cụ tài chính phái sinh.1 Mục đích của việc sử dụng công cụ tài chính phái sinh. Với thị trƣờng không hoàn hảo, phòng ngừa rủi ro là quá trình bù đắp các rủi ro trong kinh doanh (Glaum và Klocker, 2011), trong đó khoản bù đắp cho sự thay đổi giá trị hợp lý của các công cụ tài chính phái sinh. Môi trƣờng kinh doanh biến đổi liên tục khiến các công ty phải đối mặt với sự gia tăng rủi ro.
Hầu hết các công ty sử dụng công cụ tài chính phái sinh làm công cụ phòng ngừa rủi ro. Mặc dù các công cụ tài chính phái sinh có thể đƣợc sử dụng cho mục đích đầu cơ, tuy nhiên qua nghiên cứu của Tufano (1996), Gezcy và cộng sự (1997), Guay (1999), Allayanis và Weston (2001), có thể nhận thấy các công ty sử dụng công cụ tài chính phái sinh cho mục đích phòng ngừa rủi ro nhằm cố gắng giảm sự biến đổi của dòng tiền và giảm chi phí liên quan đến tình trạng tài chính khi gặp khó khăn (Stultz, 1996). Trong chuỗi nghiên cứu của Bodnar và cộng sự (1995), nghiên cứu đầu tiên của nhóm nghiên cứu là vào tháng 11 năm 1994, trong đó nghiên cứu cho biết trung tâm Weiss thuộc Wharton School đã tiến hành 2.000 thƣ khảo sát, và nhận đƣợc 530 thƣ trả lời có liên quan đến quản trị rủi ro tập trung vào việc sử dụng các công cụ tài chính phái sinh của các công ty phi tài chính của Mỹ. Kết quả nghiên cứu của Bodnar và cộng sự (1995) cho thấy các công ty phi tài chính Mỹ sử dụng công cụ tài chính phái sinh nhằm mục đích: (i) Hoạch định chính sách quản trị rủi ro, chi phí giao dịch và xác định chiến lƣợc; (ii) Giảm sự biến động của dòng tiền; (iii) Đáp ứng các yêu cầu cho việc công bố và giám sát các hoạt động tài chính trong các doanh nghiệp chặt chẽ hơn; (iv) Giám sát, kiểm tra, xử lý kế toán, và đánh giá rủi ro kế toán do những thay đổi bất lợi trong thu nhập đƣợc trình bày trong báo cáo.
Tuy nhiên, nghiên cứu cũng cho thấy các doanh nghiệp vẫn chƣa sử dụng phổ biến rộng rãi các công cụ tài chính phái sinh, đặc biệt là các công ty nhỏ. 13 Nghiên cứu thứ hai của Bodnar và cộng sự (1996) là vào tháng 10 năm 1995, cho biết sau nghiên cứu lần một năm 1994, nghiên cứu lần này cũng tập trung nghiên cứu vào kết quả khảo sát của trung tâm Weiss do CIBC Wood Gundy tài trợ. Kết quả nghiên cứu của nhóm Bodnar và cộng sự (1996) cho thấy ngoài việc sử dụng các công cụ tài chính phái sinh để quản trị rủi ro do sự biến động trong thu nhập kế toán đƣợc trình bày trong báo cáo tài chính; biến động dòng tiền; giá trị thị trƣờng của công ty; còn khảo sát thêm các vấn đề về: (i) Rủi ro tín dụng, lãi suất, giá cả hàng hóa, tỷ giá, thanh khoản; (ii) Sự không chắc chắn về xử lý kế toán phòng ngừa; (iii) Vấn đề về pháp lý, yêu cầu công bố thông tin, chi phí giao dịch, sự thiếu hiểu biết về các công cụ tài chính phái sinh, định lƣợng rủi ro của công ty, định giá, giám sát. Nghiên cứu lần thứ ba nằm trong chuỗi nghiên cứu của nhóm Bodnar và cộng sự (1998) về thực tiễn quản trị rủi ro tài chính thông qua sử dụng CCTCPS của các tập đoàn phi tài chính ở Mỹ do Trung tâm Weiss thuộc Wharton School thực hiện.
Trên cơ sở của hai nghiên cứu trƣớc, nghiên cứu lần này mở rộng nội dung so với hai nghiên cứu trƣớc bằng cách đƣa ra những câu hỏi mới về một số khía cạnh của việc sử dụng CCTCPS và thực hành quản trị rủi ro. Một số phát hiện chính đó là: (i) mức độ sử dụng CCTCPS ở các doanh nghiệp cao hơn rất nhiều và các quy định mới của FASB về hoạt động phái sinh không ảnh hƣởng đến chiến lƣợc quản trị rủi ro; (ii) khẳng định và củng cố những kết quả đƣợc tìm thấy trong hai nghiên cứu trƣớc đây, một nửa các công ty trong mẫu khảo sát sử dụng các sản phẩm phái sinh dƣới bất kỳ hình thức nào. Phái sinh ngoại tệ đƣợc sử dụng phổ biến nhất, theo sau là lãi suất, hàng hóa và các công cụ vốn cổ phần; (iii) doanh nghiệp sử dụng CCTCPS cho mục đích quản trị rủi ro và khuynh hƣớng nhận diện thiệt hại, cụ thể là có sự thiệt hại về giá cả và tiền tệ; (iv) những thay đổi nhỏ trong chính sách phòng ngừa rủi ro đối với các sản phẩm phái sinh, đặc biệt là sự chuyển hƣớng về định giá các sản phẩm phái sinh. Ngoài ra, khảo sát của Weiss cũng cho thấy mặc dù tỷ lệ các công ty sử dụng các công cụ tài chính phái sinh không thay đổi, tuy nhiên đối với các doanh nghiệp hiện chƣa sử dụng các CCTCPS sẽ bắt đầu sử dụng vì kiến thức và sự nhận thức về các công cụ này đã tăng lên và sự biến động của giá cả trên thế giới có xu hƣớng 14 tiếp tục gia tăng.
Đồng thời, việc áp dụng chuẩn mực kế toán mới cho các CCTCPS và chính sách phòng ngừa rủi ro có xu hƣớng thay đổi (Bodnar và cộng sự, 1998). Tóm lại, kết quả chuỗi nghiên cứu của nhóm tác giả Bodnar và cộng sự (1995, 1996, 1998), cho thấy sự tiến triển của việc sử dụng các CCTCPS qua thời gian. Kết quả rất đáng chú ý là tốc độ tăng trƣởng liên tục của việc sử dụng CCTCPS đã tăng từ 35% năm 1994, lên 41% năm 1995, đến 50% năm 1998. Nhóm tác giả cho thấy nhu cầu sử dụng công cụ phái sinh của các DN với mức độ ngày càng gia tăng.
Về bản chất, chuỗi nghiên cứu muốn nhấn mạnh rằng có một tỷ lệ lớn các nhà quản trị cho rằng họ đƣợc hƣởng lợi ích rất nhiều từ việc sử dụng CCTCPS để quản trị rủi ro. Tuy nhiên, trong chuỗi nghiên cứu này, mặc dù kết quả nghiên cứu chỉ đề cập đến việc sử dụng, mức độ sử dụng và lợi ích của việc sử dụng các CCTCPS, nhƣng đứng ở góc độ thị trƣờng có thể thấy rằng nhà quản trị chính là ngƣời tạo lập thị trƣờng thông qua việc sử dụng CCTCPS. Đồng thời, với mức độ sử dụng ngày càng gia tăng cho thấy không những sự gia tăng tham gia thị trƣờng của các doanh nghiệp mà trong đó nhà quản trị là ngƣời quyết định việc sử dụng CCTCPS.