Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu: Giới thiệu tổng quan về nghiên cứu. - Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan đến đề tài: Trình bày cơ sở lý thuyết về chính sách cổ tức tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh và đưa ra mô hình nghiên cứu. - tương quan giữa các sai số của mô hình. - Sau đó sử dụng phương pháp bình quân nhỏ nhất tổng quát (GLS - Generalized Least Squares) để khắc phục có sự tự tương quan giữa các sai số và c 6 - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: Trình bày phương pháp nghiên cứu.
- Chương 4: Phân tích dữ liệu và kết quả nghiên cứu: Trình bày kết quả nghiên cứu. - Chương 5: Kết luận và kiến nghị: Tóm tắt những kết quả chính của nghiên cứu, khả năng ứng dụng, hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Nghiên cứu này tìm hiểu tác động của chính sách cổ tức đến hiệu quả hoạt động. Tác động của chính sách cổ tức đến hiệu quả hoạt động được tìm hiểu bởi rất nhiều nhà nghiên cứu khác nhau, tại những thời điểm và thị trường khác nhau.
Trong chương 2 tác giả sẽ trình bày tổng quát về các lý thuyết bao gồm: lý thuyết chính sách cổ tức, lý thuyết sở hữu trong hiện tại (the bird-in-hand theory), lý thuyết chi phí đại diện, lý thuyết trật tự phân hạng. Và phân tích, đánh giá các công trình nghiên cứu đã có của các tác giả ngoài nước về tác động của chính sách cổ tức đến hiệu quả hoạt động kinh doanh. Dựa vào đó tác giả đưa ra các giả thiết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu về chính sách cổ tức ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh. Khái niệm Cổ tức là phần lợi nhuận sau thuế được dùng để trả cho các chủ sở hữu của công ty cổ phần.
Theo Luật doanh nghiệp số: 68/2014/QH13 ngày 26/11/2014, “Cổ tức là khoản lợi nhuận ròng được trả cho mỗi cổ phần bằng tiền mặt hoặc bằng tài sản khác từ nguồn lợi nhuận còn lại của công ty cổ phần sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài chính”. Cổ tức còn được gọi là lợi tức cổ phần. Cổ tức gồm có cổ tức dành cho cổ phần ưu đãi và cổ tức dành cho cổ phần thường. Cổ tức trả cho cổ phần ưu đãi là một mức hay tỷ lệ cố định theo các điều kiện áp dụng riêng cho mỗi loại cổ phần ưu đãi.
Cổ tức trả cho cổ phần thường được xác định căn cứ vào số lợi nhuận ròng còn lại sau khi đã trích lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư, phát triển công việc kinh doanh. Các hình thức trả cổ tức 2. Cổ tức chi trả bằng tiền mặt Công ty thường trả cổ tức bằng hình thức chi trả tiền mặt (cash dividend), thường là chi trả mỗi năm một lần, nhưng cũng có thể trả nhiều lần trong một năm. Khi chi trả cổ tức trên bảng cân đối kế toán, khoản mục tiền mặt và lợi nhuận giữ lại của công ty giảm đi.
Ưu điểm - Lớn nhất của tiền mặt là tính thanh khoản rất cao, cầm tiền mặt trong tay bao giờ cũng chắc chắn hơn là bạn cầm cổ phiếu trong tay. Trả cổ tức bằng tiền mặt có thể phát tín hiệu tốt cho thị trường vì các công ty chi trả cổ tức bằng tiền mặt thì chứng tỏ công ty khả năng thanh khoản rất tốt. - Nếu như giá cổ phiếu thấp thì việc chi trả cổ tức bằng tiền mặt sẽ hỗ trợ cho tính thanh khoản cho cổ phiếu, công ty cũng giữ chân được cổ đông, nhất là cổ đông lớn. - Việc đánh thuế trên cổ tức tiền mặt được nhận vẫn chưa được thực hiện tại Việt Nam (theo TT 62/2009/TT-BTC).
- Thuận lợi cho cổ đông thực hiện các mục đích mang tính chất cá nhân. - Thủ tục chi trả bằng tiền mặt nhanh chóng và đơn giản hơn nhiều. Nhược điểm - Sử dụng một lượng tiền mặt lớn chi trả cho cổ đông sẽ ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của công ty và giảm tài sản của công ty. Phần lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư sẽ bị giảm, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong tương lai.
Làm chuyển giao giá trị kinh tế từ công ty sang cho các cổ đông. Trả bằng cổ phiếu Chi trả cổ tức bằng cổ phiếu là các hình thức công ty phát hành thêm những cổ phiếu của chính công ty đó tương ứng với phần lợi nhuận sau thuế dành trả cổ tức và phân phối cho cổ đông theo tỷ lệ cổ phần mà họ đang nắm giữ Ví dụ: Khi công ty chi trả cổ tức bằng cổ phiếu theo tỷ lệ 5:1 có nghĩa cứ 5 cổ phiếu nắm giữ thì cổ đông có thêm 1 cổ phiếu. Hình thức chi trả cổ tức này xảy ra trong trường hợp Ban lãnh đạo công ty muốn giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư nhưng cũng phải làm cho các cổ đổng vừa long. Phương thức này cũng có những ưu điểm và nhược điểm sau: Ưu điểm Công ty có thể tránh việc chi trả cổ tức bằng tiền mặt khi đang cần dùng số tiền đó để đầu tư vốn lưu động hoặc tài sản cổ định (Nhà máy, thiết bị, v.
Bên cạnh đó, việc trả cổ tức bằng cổ phiếu còn giúp tăng thanh khoản giao dịch cổ phiếu, khi số lượng cổ phiếu phát hành thêm tăng lên và giá được điều chỉnh giảm tương ứng. Do đó, cơ hội cổ phiếu đến với nhiều nhà đầu tư hơn, và cơ hội tăng giá cho chính bản thân cổ phiếu cũng xảy ra. Nhược điểm - Do số cổ phiếu lưu hành tăng lên, vốn hóa không đổi nên thị giá một cổ phiếu sau khi trả cổ tức bằng cổ phiếu sẽ giảm. - Bên cạnh đó, nếu công ty sử dụng tiền thay vì trả cổ tức tiền mặt vào các dự án không tạo thêm khả năng lợi nhuận cho nhà đầu tư, giá cổ phiếu có thể giảm, khiến nhà đầu tư mất đi cơ hội nếu nhận tiền mặt cổ tức thay vì cổ tức bằng cổ phiếu.
Chi trả cổ tức bằng tài sản Chi trả cổ tức bằng tài sản là công ty chi trả cổ tức cho cổ đông bằng thành phẩm, hàng bán, bất động sản của công ty hay cổ phiếu của công ty khác mà thuộc sở hữu của công ty. Có thể giảm các khoản đầu tư, hàng hóa, bất động sản của công ty từ đó tài sản giảm dẫn đến giảm uy tín kéo theo giá cổ phiếu của công ty sụt giảm, hơn nữa cổ đông cũng không thích hình thức chi trả này. Vì vậy, hình thức này trong thực tế ít được áp dụng. Mua lại cổ phần Trả cổ tức bằng cổ phần là việc công ty mua lại toàn bộ hoặc một phần số cổ phiếu do chính công ty phát hành đang thuộc sở hữu của các cổ đông.
Mua lại cổ phiếu của chính công ty phát hành cũng giống như chi trả cổ tức, vì cổ đông sẽ nhận được một khoản lợi nhuận từ việc bán cổ phiếu của họ. Hình thức này được xem là một cơ chế phân phối tiền cho cổ đông mà công ty lựa chọn. Hình thức mua: mua giá cố định, mua theo giá thị trường, … Phương pháp này cũng có nhiều ưu và nhược điểm: Ưu điểm - Thể hiện tín hiệu tích cực rằng công ty sẽ đạt mức lợi nhuận cao hơn trong tương lai. Những công ty có lượng tiền mặt dư thừa nhưng không chắc chắn về khả năng tiếp tục tạo ra dòng tiền thặng dư này trong tương lai, sẽ chọn cách mua lại cổ phần thay vì chia cổ tức bằng tiền mặt.
- Làm giảm số cổ phân mà mỗi cổ đông nắm giữ. Nhược điểm - Giảm lượng tiền mặt, giảm khả năng thanh khoản. Bằng cổ phiếu quỹ Cổ phiếu đang lưu hành trên thị trường được công ty mua lại gọi là cổ phiếu quỹ. Cổ phiếu quỹ không còn các quyền như các cổ phiếu đang lưu hành.
Công ty dùng cổ phiếu quỹ để thưởng hoặc bán với giá ưu đãi cho các cổ đông cũ thay vì trả cổ tức bằng tiền mặt. Việc mua cổ phiếu quỹ giúp cho lượng cổ phiếu trên thị trường giảm, giá cổ phiếu đang lưu hành tăng. Xét về bản chất, hoạt động mua cổ phiếu quỹ là việc sử dụng quỹ thặng dư vốn cổ phần và/hoặc lợi nhuận để lại, mua lại cổ phiếu của chính mình. Nói cách khác, đây là việc doanh nghiệp dùng nguồn vốn (thặng dư vốn) hoặc lợi nhuận để làm giảm số lượng cổ phiếu lưu hành của mình xuống, làm giảm số lượng cổ phần góp vào doanh nghiệp và như vậy sẽ làm tích lũy thêm thu nhập trên mỗi cổ phần của doanh nghiệp.
Ở góc độ doanh nghiệp bán lại cổ phiếu quỹ, bán ra công chúng bên ngoài hay chuyển cho cổ đông dưới hình thức thưởng hoặc trả cổ tức bằng cổ phiếu quỹ, là quá trình làm tăng số vốn của doanh nghiệp và làm pha loãng thu nhập trên mỗi cổ phần. Như vậy, với việc sử dụng các nguồn hợp pháp của mình để mua lại cổ phiếu của chính mình, thì việc doanh nghiệp thưởng cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu hay trả cổ tức từ cổ phiếu quỹ cho cổ đông hiện hữu là việc phân phối lại tài sản (cổ phiếu của chính mình) cho các cổ đông và đây là quyền chính đáng của doanh nghiệp. Chia thưởng hoặc chia cổ tức bằng cổ phiếu quỹ có thể coi là hành động chính thức hóa mục tiêu nâng tỷ lệ sở hữu của một hoặc một nhóm cổ đông của công ty. Chính sách cổ tức 2.
Khái niệm Chính sách cổ tức là chính sách ấn định phân phối giữa lợi nhuận giữ lại tái đầu tư và chi trả cổ tức cho cổ đông. Lợi nhuận giữ lại cung cấp cho các nhà đầu tư một 12 nguồn tăng trưởng lợi nhuận tiềm năng tương lai thông qua tái đầu tư, trong khi cổ tức cung cấp cho họ một phân phối hiện tại. Theo Brigham và Houston (được trích bởi Ngô Thị Mỹ Loan, 2011) chính sách cổ tức là một chính sách ấn định mức lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp sẽ đem ra phân phối như thế nào, bao nhiêu phần trăm được giữ lại để tái đầu tư và bao nhiêu dùng để chi trả cổ tức cho cổ đông. Pandy (được trích trong Nguyễn Đức Trung và Nguyễn Thu Hiền, 2014) định nghĩa cổ tức như một phần chia từ lợi nhuận ròng của một công ty được ban giám đốc đề xuất để phân phối cho các cổ đông tương ứng với tỷ lệ cổ phiếu mà họ nắm giữ.
Chính sách cổ tức thường bao gồm hai vấn đề.