mở đầu của một chu trình NSNN. Các khoản chi thường xuyên nói chung và chi thường xuyên SV: Đoàn Mai Anh Lớp CQ 49/21.11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Học viện Tài chính 9 Luận văn tốt nghiệp nói riêng một khi được cho vào dự toán và được cơ quan quyền lực Nhà nước xét duyệt được coi là chi tiêu pháp lệnh. Xét trên góc độ quản lý, số chi được ghi trong dự toán thể hiện sự cam kết của cơ quan chức năng quản lý tài chính của Nhà nước với các đơn vị sự nghiệp giáo dục này được thể hiện ở chỗ mọi nhu cầu chi thường xuyên dự kiến cho năm kế hoạch phải được xác định trong dự toán kinh phí từ cơ sở thông qua các bước xét duyệt của các cơ quan quyền lực Nhà nước từ thấp đến cao và do quốc hội quyết định, trở thành căn cứ chính thức để phân bổ số chi thường xuyên cho mỗi ngành, mỗi cấp, mỗi đơn vị. Hai, nguyên tắc tiết kiệm hiệu quả.
Tiết kiệm, hiệu quả là một trong những nguyên tắc quan trọng hàng đầu của quản lý kinh tế tài chính, bởi lẽ nguồn lực có hạn nhưng nhu cầu vô hạn. Do vậy trong quá trình phân bổ và sử dụng nguồn lực cho các nhiệm vụ hay cho giáo dục THCS nói riêng cần phải tính toán sao cho chi phí là thấp nhất nhưng kết quả là cao nhất. Ba, Nguyên tắc chi trưc tiếp qua KBNN. Một trong những chức năng của KBNN là quản lý NSNN.
Vì vậy, KBNN vừa có quyền, vừa có trách nhiệm phải kiểm soát chặt chẽ mọi khoản chi NSNN, đặc biệt là các khoản chi thường xuyên. Để tăng cường vai trò của KBNN trong kiểm soát chi thường xuyên của NSNN, hiện nay nước ta đang thực hiện việc “chi trực tiếp qua KBNN” như là một nguyên tắc trong quản lý khoản chi này. Qua đó, kế toán của các trường sẽ làm việc trực tiếp với kho bạc để thực hiện các khoản chi trong năm. Chu trình quản lý chi thường xuyên NSNN cho SNGD Quản lý chi NSNN nói chung và chi cho sự nghiệp giáo dục nói riêng là quản lý theo chu trình ngân sách, được thực hiện thông qua ba khâu chủ yếu là: Lập dự toán.
Chấp hành dự toán. SV: Đoàn Mai Anh Lớp CQ 49/21.11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Học viện Tài chính 10 Luận văn tốt nghiệp Quyết toán. Lập dự toán chi thường xuyên NSNN cho SNGD Đây là khâu đầu điên của một chu trình ngân sách, nhằm mục đích để nhân tích, đánh giá giữa các khả năng và nhu cầu các nguồn tài chính của nhà nước nhắm xác lập các chỉ tiêu thu chi ngân sách nhà nước hàng năm một cách đúng đắn, khoa học và hiệu quả. Việc lập dự toán phải được thực hiện theo đúng quy trình, định mức và được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt.
Căn cứ lập dự toán ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục hàng năm: - Căn cứ vào chủ trương của nhà nước về duy trì và phát triển hoạt động sự nghiệp giáo dục trong từng giai đoạn nhất định. - Căn cứ vào các chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội nói chung và các chỉ tiêu có liên quan trực tiếp đến hoạt động của sự nghiệp giáo dục nói riêng - Khả năng nguồn kinh phí có thể đáp ứng cho nhu cầu chi sự nghiệp kỳ kế hoạch. - Các chính sách, chế độ chi sự nghiệp của NSNN hiện hành và dự toán những điều chỉnh hoặc thay đổi có thể xảy ra trong kỳ kế hoạch. - Tình hình thực hiện dự toán năm trước.
Trình tự lập dự toán. -Bước 1: Căn cứ vào mức chi dự kiến cơ quan tài chính phân bổ cho ngành giáo dục và các văn bản hướng dẫn lập dự toán, nghành giáo dục giao chỉ tiêu và hướng dẫn cho các đơn vị lập dự toán chi. -Bước 2: Sự nghiệp giáo dục căn cứ vào chỉ tiêu được giao và văn bản hướng dẫn của các cấp trên để lập dự toán kinh phí của đơn vị mình gửi cơ quan quản lý cấp trên hoặc cơ quan tài chính. Cơ quan tài chính xét duyệt tổng thể dự toán chi cho giáo dục vào dự toán chi NSNN nói chung để trình cơ quan chính quyền và cơ quan quyền lực nhà nước xét duyệt.
SV: Đoàn Mai Anh Lớp CQ 49/21.11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Học viện Tài chính 11 Luận văn tốt nghiệp -Bước 3: Căn cứ vào dự toán chi đã được cơ quan quyền lực nhà nước thông qua, cơ quan tài chính sau khi xem xét điều chỉnh lại cho phù hợp sẽ chính thức phân bổ theo dự toán cho sự nghiệp giáo dục thông qua hệ thống kho bạc nhà nước. Chấp hành dự toán chi thường xuyên NSNN cho SNGD Đây là khâu thứ hai trong chu trình quản lý chi thường xuyên NSNN cho giáo dục THCS, đó là quá trình thực hiện cấp phát NSNN cho giáo dục THCS, thời gian tổ chức chấp hành dự toán NSNN ở nước ta được tính từ ngày 01 tháng 01 đến hết ngày 31 tháng 12 năm dương lịch. Các căn cứ để tổ chức chấp hành dự toán chi thường xuyên của NSNN cho sự nghiệp giáo dục: -Dựa vào mức chi của từng chỉ tiêu đã được duyệt trong dự toán. Đây là căn cứ quyết định trong chấp hành dự toán chi thường xuyên của NSNN cho dự nghiệp giáo dục.
Do nhu cầu chi thì đã có định mức chi, tiêu chuẩn, đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và thông qua. -Dựa vào khả năng nguồn kinh phí có thể dành cho nhu cầu cho chi thường xuyên trong mỗi kỳ. Mức chi trong dự toán mới chỉ là con số dự kiến, khi thực hiện phải căn cứ vào điều kiện thực tế của năm kế hoạch thì mới chuyển hóa được chỉ tiêu dự kiến thành hiện thực. -Dựa vào các định mức, chính sách, chế độ chi NSNN hiện hành cho giáo dục.
Đây là căn cứ có tính pháp lý bắt buộc quá trình cấp phát sử dụng các khoản chi phải tuân thủ, là căn cứ để đánh giá tính hợp lệ, hợp pháp của việc cấp phát và sử dụng các khoản chi. Điều kiện chi thường xuyên NSNN cho SNGD đó là: -Đã có trong dự toán ngân sách được giao. -Đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cấp có thẩm quyền quyết định. -Có đủ hồ sơ, chứng từ.
SV: Đoàn Mai Anh Lớp CQ 49/21.11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Học viện Tài chính 12 Luận văn tốt nghiệp -Đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được ủy quyền quyết định chi. Quyết toán chi thường xuyên NSNN cho SNGD Là khâu cuối cùng trong một chu trình ngân sách nhằm tổng kết, đánh giá việc thực hiện ngân sách cũng như các chính sách ngân sách của năm ngân sách đã qua. Các yêu cầu cho quá trình quyết toán: -Các đơn vị phải lập đầy đủ các báo cáo quyết toán và gửi các báo cáo này kịp thời cho cơ quan có thẩm quyền. -Số liệu trong báo cáo phải đảm bảo chính xác, trung thực khớp với số liệu của phòng tài chính và KBNN.
-Nội dung các báo cáo phải đúng mục lục ngân sách. Các trường lập quyết toán chi trong phạm vi đơn vị của mình và đối chiếu số liệu với KBNN nơi trường giao dịch xác nhận. Phòng GD-ĐT tiến hành tổng hợp quyết toán các trường THCS để tổng hợp quyết toán toàn ngành và báo cáo phòng TCKH xem xét rồi gửi UBND huyện phê duyệt. Trong những năm gần đây, quản lý chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục đã có những tiến bộ đáng kể, tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại chưa được giải quyết triệt để.
Để tìm hiểu kỹ hơn về những mặt đã đặt được cũng như những mặt hạn chế, bất cập trong công tác quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục, sau đây chúng ta sẽ đi sâu vào thực trạng của các trường THCS trong huyện Tiền Hải. SV: Đoàn Mai Anh Lớp CQ 49/21.11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Học viện Tài chính 13 Luận văn tốt nghiệp CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NSNN CHO GIÁO DỤC TRUNG HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TIỀN HẢI – THÁI BÌNH 2. Khái quát đặc điểm KT-XH và mạng lưới các trường THCS trên địa bàn huyện Tiền Hải. Khái quát về đặc điểm KT-XH huyện Tiền Hải Tiền Hải là huyện ven biển, nằm ở phía Đông Nam tỉnh Thái Bình, có tọa độ địa lý từ 20o17’đến 20o28' độ vĩ Bắc; từ 106o27' đến 106o35' kinh Đông.
Phía Bắc giáp huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình, ranh giới là sông Trà Lý. Phía Nam giáp huyện Giao Thủy tỉnh Nam Định, ranh giới là sông Hồng. Phía Tây giáp huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình. Phía Đông giáp biển Đông, với chiều dài bờ biển là 23km, từ cửa Trà Lý đến cửa Ba Lạt.
Tiền Hải có diện tích tự nhiên 225,8km2; Dân số 212.561 người, phần lớn là người Kinh. Tiền Hải có Thị trấn Tiền Hải và 34 xã: An Ninh, Bắc Hải, Đông Cơ, Đông Hải, Đông Hoàng, Đông Lâm, Đông Long, Đông Minh, Đông Phong, Đông Quý, Đông Trà, Đông Trung, Đông Xuyên, Nam Chính, Nam Cường, Nam Hà, Nam Hải, Nam Hồng, Nam Hưng, Nam Phú, Nam Thanh, Nam Thắng, Nam Thịnh, Nam Trung, Phương Công, Tây An, Tây Giang,Tây Lương, Tây Ninh, Tây Phong, Tây Tiến, Tây Sơn, Vân Trường, Vũ Lăng. Thị Trấn Tiền Hải cách Thị xã Thái Bình 21km theo quốc lộ số 39B; cách Thủ đô Hà Nội 130km; cách thành phố cảng Hải Phòng 70km; cách xã Nam Phú ở ven biển xa nhất là 15km. Ngoài quốc lộ 39B và các tỉnh lộ, với ba mặt tiếp giáp sông - biển, Tiền Hải có giao thông đường biển thuận lợi có thể đi đến các cảng trong nước, các cảng của các nước và vùng lãnh thổ trong khu vực (Nam Trung Quốc, Đài SV: Đoàn Mai Anh Lớp CQ 49/21.11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Học viện Tài chính 14 Luận văn tốt nghiệp Loan, Hồng Kông, Hàn Quốc.); Có đường sông thông thương với các tỉnh nằm dọc sông Hồng, sông Thái Bình; Có điều kiện thuận lợi cho việc đi lại, giao lưu trao đổi hàng hóa và là tiềm năng to lớn để phát triển ngành vận tải sông - biển.
Vị trí địa lý ấy đã tạo cho Tiền Hải có một vị thế địa - văn hóa, địa - chính trị riêng so với các huyện trong tỉnh Thái Bình cũng như với các địa phương khác trong cả nước. Tiền Hải có nhiều điều kiện để phát triển kinh tế nhờ tài nguyên thiên nhiên như: tài nguyên đất, tài nguyên khoáng sản; tài nguyên nước.