CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHI TÀI CHÍNH ĐẢNG 1. Cơ sở lý luận về quản lý chi tài chính Đảng 1. Chi tài chính Đảng 1. Khái niệm chi tài chính Đảng Tài chính phản ánh tổng hợp những mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính thông qua việc tạo lập, sử dụng những quỹ tiền tệ với mục đích đáp ứng những nhu cầu khác nhau của các chủ thể tồn tại trong đời sống xã hội.
Theo quan điểm của P.Drake: - Về nghĩa hẹp, tài chính phản ánh hoạt động thu, chi tiền tệ của Chính phủ. - Về nghĩa rộng hơn, tài chính phản ánh các khoản vay, cho vay ảnh hưởng đến mức cung tiền trên thị trường. Còn theo quan điểm kinh tế học hiện đại, tài chính biểu thị vốn dưới dạng tiền tệ, ở dạng các khoản có thể vay mượn hay đóng góp vốn thông qua thị trường tài chính. Như vậy, tài chính là tổng hợp những mối quan hệ phát sinh trong quá trình phân phối những nguồn tài chính thông qua việc tạo lập hoặc sử dụng những quỹ tiền tệ với mục đích nhằm đáp ứng nhu cầu khác nhau của tất cả chủ thể trong xã hội.
Tài chính có mặt trong mọi lĩnh vực diễn ra trong xã hội. Xét về bản chất, tài chính được hiểu là các quan hệ kinh tế trong phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức giá trị. Thông qua đó tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng nhu cầu tích luỹ và tiêu dùng của các chủ thể trong nền kinh tế. Nhìn bề ngoài, tài chính có vẻ giống như các quỹ tiền tệ của những chủ thể trong xã hội.
Nhưng tài chính không phải là tiền tệ. Tiền tệ về bản chất là đóng vai trò vật ngang giá chung trong trao đổi hàng hoá với các chức năng vốn có: phương tiện để đo lường giá trị hàng hoá, phương tiện trao đổi và phương tiện tích luỹ. Tài chính được hiểu là sự vận động tương đối của tiền tệ 6 thực hiện chức năng của mình, nhằm mục đích tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế. Tài chính, tài sản của Đảng Cộng sản Việt Nam do Đảng thống nhất quản lý, điều hành theo nguyên tắc tập trung dân chủ kết hợp với phân cấp quản lý, đảm bảo tính độc lập tự chủ trong công tác quản lý ngân sách nhằm phục vụ tốt nhiệm vụ của từng cấp ủy và của toàn Đảng.
Theo Điều 46 Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam 2011 thì tài chính của Đảng bao gồm đảng phí do đảng viên đóng, từ ngân sách nhà nước và các khoản thu khác. Nguồn tài chính này sẽ được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau như: Chi đảm bảo hoạt động của bộ máy các cơ quan, đơn vị của Đảng; Chi đảm bảo hoạt động đối ngoại; Chi đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức; Mua sắm, sửa chữa lớn tài sản cố định…Như vậy, tài chính Đảng là toàn bộ các hoạt động thu chi của Đảng cộng sản Việt Nam sử dụng cho các hoạt động của Đảng. Chi tài chính Đảng là việc cơ quan Đảng phân phối và sử dụng quỹ ngân sách (NS) Đảng nhằm bảo đảm điều kiện vật chất để duy trì sự hoạt động và thực hiện các chức năng đáp ứng các hoạt động và sự phát triển của Đảng. Chi tài chính Đảng thể hiện các quan hệ tiền tệ hình thành trong quá trình phân phối và sử dụng quỹ NS nhằm trang trải cho các chi phí của bộ máy của Đảng, phát triển Đảng các cấp.
Chi tài chính Đảng là sự phối hợp giữa hai quá trình phân phối và sử dụng quỹ NS. Quá trình phân phối là quá trình cấp phát kinh phí từ NSNN và các nguồn quỹ khác hình thành quỹ NS Đảng trước khi đưa vào sử dụng. Quá trình sử dụng là quá trình trực tiếp chi dùng khoản tiền cấp phát từ ngân sách không trải qua việc hình thành các loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng. Nguồn thu và nhiệm vụ chi của ngân sách Đảng a.
Nguồn thu của ngân sách Đảng: * Thu nội bộ: 7 - Các nguồn thu cân đối vào chi thường xuyên: Thu sự nghiệp từ các đơn vị sự nghiệp (xuất bản báo, tạp chí và các đơn vị sự nghiệp khác); Thu khác (Thu thanh lý tài sản cố định, các khoản thu ủng hộ, thu khác …) - Các nguồn thu không cân đối vào chi thường xuyên: Thu đảng phí (Số thu đảng phí của các cấp ngân sách đảng được quản lý, sử dụng theo quy định ban hành kèm theo Quyết định số 09-QĐ/TW ngày 24/9/2001 của Bộ Chính trị); Thu từ các doanh nghiệp của Đảng (trừ thuế và các khoản phải nộp ngân sách Nhà nước theo luật định). Khoản thu này chỉ dùng lập quỹ dự trữ của Đảng ở các cấp; việc quản lý, sử dụng thực hiện theo quy định của Trung ương Đảng. * Nguồn ngân sách nhà nước cấp: Được tính trên cơ sở chênh lệch giữa tổng chi ngân sách đảng được duyệt (bao gồm cả kinh phí dự phòng) ở mỗi cấp trừ các khoản thu nội bộ được đưa vào cân đối chi thường xuyên. Đây là nguồn thu chính của NS Đảng.
Ngân sách nhà nước các cấp có trách nhiệm đảm bảo cân đối kinh phí cho hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam: - Ngân sách Trung ương đảm bảo kinh phí cho hoạt động của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và các cơ quan Đảng ở trung ương; - Ngân sách địa phương đảm bảo kinh phí cho hoạt động của các cấp ủy và các cơ quan của cấp ủy ở địa phương theo phân cấp của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh. Sở Tài chính phối hợp với Văn phòng hoặc Ban Tài chính – Quản trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giúp Ủy ban nhân dân và Ban Thường vụ tỉnh, thành ủy xây dựng phương án phân cấp ngân sách cho các huyện ủy, quận ủy, thành ủy trực thuộc tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định theo một trong hai phương án sau đây: + Huyện ủy, quận ủy, thị ủy, thành ủy trực thuộc tỉnh là đơn vị dự toán thuộc ngân sách đảng cấp tỉnh. + Huyện ủy, quận ủy, thị ủy, thành ủy trực thuộc tỉnh là đơn vị dự toán thuộc ngân sách cấp huyện. 8 - Kinh phí hoạt động của đảng ủy xã, phường, thị trấn; tổ chức Đảng các cấp thực hiện theo quy định ban hành kèm theo 99-QĐ/TW ngày 30 tháng 5 năm 2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng; và thông tư liên tịch của Ban Tài chính – Quản trị Trung ương và Bộ Tài chính hướng dẫn.
* Kinh phí bố trí dự toán năm trước chưa thực hiện chuyển sang (nếu có). Nhiệm vụ chi của ngân sách Đảng: * Chi từ nguồn kinh phí thường xuyên: - Chi đảm bảo hoạt động của bộ máy các cơ quan, đơn vị hành chính – sự nghiệp của Đảng có tính chất tương đối ổn định, được tính trên cơ sở biên chế và nhiệm vụ chính trị được giao và đảm bảo tính tương quan với các cơ quan nhà nước cùng cấp; - Chi đảm bảo hoạt động của các tổ chức Đảng các cấp theo quy định ban hành kèm theo Quyết định số: 99-QĐ/TW ngày 30 tháng 5 năm 2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng; - Các khoản chi đảm bảo các nhiệm vụ đặc thù của các cấp ủy Đảng được tính theo thực tế yêu cầu, nhiệm vụ hàng năm: + Chi đảm bảo hoạt động đối ngoại (Đoàn ra, đoàn vào, chi cho các cơ quan thường trú ở ngoài nước …); + Trợ giá giấy, xuất bản; chi các chuyên đề nghiên cứu các chuyên đề, đề án; phổ biến và quán triệt Nghị quyết; Đại hội Đảng các cấp, hội nghị cán bộ…; + Các khoản chi thực hiện chính sách cán bộ, các đối tượng có công với nước và các khoản chi đặc biệt khác (lão thành cách mạng, các Bà mẹ Việt Nam anh hùng; các khoản chi đặc biệt khác …); + Chi đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức của Đảng; + Mua sắm, sửa chữa tài sản cố định. Ngoài ra để đảm bảo kịp thời kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất của các cấp ủy, ngân sách đảng các cấp được tính khoản dự phòng từ 2% đến 5% tổng chi thường xuyên ngân sách đảng được duyệt. * Các khoản chi do Nhà nước đầu tư trực tiếp bao gồm: 9 - Chi đầu tư xây dựng cơ bản các công trình thuộc cơ quan Đảng; - Chi đề tài, đề án nghiên cứu khoa học; chi chương trình mục tiêu quốc gia…; - Chi hỗ trợ cho các doanh nghiệp của đảng (nếu có) (Bộ Tài chính, 2015).
Quản lý chi tài chính Đảng 1. Khái niệm quản lý tài chính Đảng Quản lý là việc quản trị của một tổ chức, cho dù đó là một doanh nghiệp, một tổ chức phi lợi nhuận hoặc cơ quan chính phủ. Quản lý bao gồm các hoạt động thiết lập chiến lược của một tổ chức và điều phối các nỗ lực của nhân viên (hoặc tình nguyện viên) để hoàn thành các mục tiêu của mình thông qua việc áp dụng các nguồn lực sẵn có, như tài chính, tự nhiên, công nghệ và nhân lực. Trong đời sống xã hội, quản lí xuất hiện khi có hoạt động chung của con người.
Quản lí điều khiển, chỉ đạo hoạt động chung của con người, phối hợp các hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân tạo thành hoạt động chung thống nhất của tập thể hướng tới mục tiêu đã định trước. Để thực hiện hoạt động quản lí cần phải có tổ chức và quyền uy. Chủ thể quản lí là cá nhân hay tổ chức - những đại diện có quyền hạn và trách nhiệm liên kết, phối hợp những hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân hướng tới mục tiêu chung nhằm đạt được kết quả nhất định trong quản lí. Khách thể của quản lí là trật tự quản lí.
Trật tự quản lí được quy định bởi nhiều loại quy phạm xã hội khác nhau như quy phạm đạo đức, quy phạm tôn giáo, quy phạm pháp luật.tuỳ theo từng loại hình quản lí (Nguyễn Thị Bất, 2017). Quản lý tài chính là việc lập kế hoạch, chỉ đạo, tổ chức, kiểm soát dòng tiền, các hoạt động tài chính như mua sắm vật tư, quỹ tiền tệ,…Trong đó, quản lý tài chính bao gồm quản trị, bảo trì tài sản tài chính, xác định và quản lý rủi ro. Quản lý tài chính là quá trình tổ chức, điều khiển mọi hoạt động tài chính. Suy cho cùng hoạt động tài chính bao gồm hoạt động động viên, phân phối và sử dụng nguồn lực tài chính.
Hoạt động đó có hiệu quả hay không, có đạt được mục đích mong đợi hay không phụ thuộc phần lớn vào quá trình tổ chức và điều 10 khiển của con người.