CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ QUẢN LÝ CHI PHÍ CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái quát về doanh nghiệp 1. Khái niệm và phân loại doanh nghiệp 1. Khái niệm Doanh nghiệp là một trong những chủ thể kinh doanh chủ yếu của xã hội.
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng, thông qua đó tối đa hóa lợi của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xã hội. Phân loại doanh nghiệp Căn cứ vào hình thức pháp lý doanh nghiệp thì doanh nghiệp được chia thành những loại sau đây: Công ty cổ phần là doanh nghiệp có những đặc điểm chung sau đây: Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế tối đa. Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn, theo quy định của pháp luật về chứng khoán.
Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân và là doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu hạn, cổ đông của công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. Công ty trách nhiệm hữu hạn Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp có những đặc điểm chung sau đây: Chủ sở hữu công ty phải là một tổ chức hoặc cá nhân và có thể là: Cơ quan Nhà nước, đơn vị vũ trang, các pháp nhân của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, các loại doanh nghiệp, các tổ chức khác theo quy định của pháp luật. SVTH: Mai Thị Thủy 4 Lớp: TCDN 02-K24 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD:Ths. Trần Đức Thắng Chủ sở hữu công ty có quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ ho tổ chức hoặc cá nhân khác theo quy định về chuyển đổi doanh nghiệp.
Công ty không được phát hành cổ phần. Công ty có tư cách pháp nhân và chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm hữu hạn đối với kết quả kinh doanh của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên: là doanh nghiệp có những đặc điểm chung sau đây: Hình thức sở hữu của công ty thuộc hình thức sở hữu chung của các thành viên công ty. Thành viên của công ty có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên mỗi công ty không ít hơn hai và không vượt quá năm mươi.
Công ty không được quyền phát hành cổ phần. Công ty là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân và chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp. Công ty hợp danh là doanh nghiệp có những đặc điểm chung sau đây: Phải có ít nhất hai thành viên hợp danh; ngoài các thành viên hợp danh còn có thành viên góp vốn. Thành viên hợp danh phải là cá nhân có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty (trách nhiệm vô hạn).
Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân. Công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào. Như vậy, công ty hợp danh có hai loại: Công ty hợp danh mà tất cả các thành viên đều là thành viên hợp danh và Công ty hợp danh có cả thành viên hợp danh và thành viên góp vốn.
Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Như vậy, doanh nghiệp tư nhân gồm những đặc điểm cơ bản sau: SVTH: Mai Thị Thủy 5 Lớp: TCDN 02-K24 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD:Ths. Trần Đức Thắng Doanh nghiệp tư nhân là một doanh nghiệp do một cá nhân đầu tư vốn thành lập và làm chủ. Chủ sở hữu tài sản của doanh nghiệp là một cá nhân.
Do đó, chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định những vấn đề liên quan tới quản lý doanh nghiệp, thuê người khác điều hành (trong trường hợp này phải khai báo với cơ quan đăng ký kinh doanh và vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của doanh nghiệp). có quyền cho thuê toàn bộ doanh nghiệp, bán doanh nghiệp, tạm ngừng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật. Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân bởi tài sản của doanh nghiệp không tách bạch rõ ràng với tài sản của chủ doanh nghiệp. Tài sản mà chủ doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân không phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho doanh nghiệp.
Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp.2 Hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp 1. Hoạt động huy động vốn Vốn là điều kiện không thể thiếu để thành lập một doanh nghiệp và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong mọi loại hình doanh nghiệp, vốn phản ánh nguồn lực tài chính được đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Trong quản lý tài chính, các doanh nghiệp cần chú ý quản lý việc huy động và sự luân chuyển của vốn, sự ảnh hưởng qua lại của các hình thức khác nhau của tài sản và hiệu quả tài chính.
Nói cách khác, vốn cần được xem xét và quản lý trong trạng thái vận động và mục tiêu hiệu quả của vốn có ý nghĩa rất quan trọng. Tùy theo loại hình doanh nghiệp và các đặc điểm cụ thể, mỗi doanh nghiệp có thể có các phương thức tạo vốn và huy động vốn khác nhau… Trong điều kiện kinh tế thị trường, các phương thức huy động vốn cho doanh nghiệp được đa dạng hóa, giải phóng các nguồn tài chính trong nền kinh tế, thúc đẩy sự thu hút vốn vào các doanh nghiệp. Các nguồn vốn doanh nghiệp được chia ra như sau: Nguồn vốn chủ sở hữu, trong đó bao gồm: a. Nguồn vốn tự có của doanh nghiệp Khi doanh nghiệp được thành lập bao giờ chủ doanh nghiệp cũng phải đầu tư một số vốn nhất định.
Đối với doanh nghiệp Nhà nước, nguồn vốn tự có ban đầu chính là vốn đầu tư của Ngân sách Nhà nước. SVTH: Mai Thị Thủy 6 Lớp: TCDN 02-K24 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD:Ths. Trần Đức Thắng Trong công ty tư nhân, chủ doanh nghiệp phải có đủ số vốn pháp định cần thiết để xin đăng ký thành lập doanh nghiệp. Vốn pháp định là mức vốn tối thiểu phải có theo quy định của pháp luật để thành lập doanh nghiệp.
Đối với công ty cổ phần, nguồn vốn do các cổ đông đóng góp là yếu tố quyết định hình thành công ty. Mỗi cổ đông là một chủ sở hữu công ty và chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trên trị giá số cổ phần mà họ nắm giữ. Trong thực tế, vốn tự có của chủ doanh nghiệp thường lớn hơn rất nhiều so với vốn pháp định nhất là sau một thời gian hoạt động và mở rộng kinh doanh. Phát hành cổ phiếu Phát hành cổ phiếu là một kênh rất quan trọng để huy động vốn dài hạn cho công ty một cách rộng rãi thông qua mối liên hệ với thị trường chứng khoán.
Trong các nước công nghiệp phát triển, thị trường chứng khoán là nơi hội tụ những hoạt động tài chính sôi động nhất của nền kinh tế. Cổ phiếu thường: là loại cổ phiếu thông dụng nhất vì các ưu điểm của nó đáp ứng được yêu cầu của những người đầu tư và công ty phát hành. Lượng cổ phiếu tối đa mà công ty được cơ quan quản lý Nhà nước cho phép phát hành gọi là vốn cổ phần được phép phát hành. Lượng cổ phiếu đó phụ thuộc vào quy định của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước và các cơ quan có thẩm quyền.
Con số này được ghi trong điều lệ của Công ty. Muốn tăng vốn cổ phần phải được đại hội cổ đông cho phép. Đối với công ty cổ phần, cần đặc biệt chú ý các biện pháp chống thôn tính để bảo vệ công ty trước sự xâm thực bằng cổ phiếu của các công ty khác. Huy động bốn qua phát hành cổ phiếu phải xét đến nguy cơ bị các đối thủ thôn tính.
Do đó phải tính đến tỷ lệ cổ phần tối thiểu cần duy trì để giữ vững quyền kiểm soát của công ty. Cổ phiếu ưu đãi: Thông thường, cổ phiếu ưu đãi chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng số cổ phiếu được phát hành. Tuy nhiên trong một số trường hợp việc dùng cổ phiếu ưu tiên là thích hợp. Cổ phiếu ưu đãi có đặc điểm là thường có mức cổ tức nhất định, cổ phiếu này có quyền được nhận tiền lãi trước các cổ đông thường.
Nguồn vốn nợ, trong đó bao gồm: a. Phát hành trái phiếu công ty Trái phiếu là các giấy tờ vay nợ dài hạn và trung hạn, bao gồm trái phiếu chính phủ và trái phiếu công ty. Thời gian phổ biến nhất của trái phiếu là các loại 1 năm, 3 năm, 5 năm và 10 năm. Một trong những vấn đề cần xem xét trước khi phát hành là SVTH: Mai Thị Thủy 7 Lớp: TCDN 02-K24 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD:Ths.
Trần Đức Thắng lựa chọn loại trái phiếu nào là phù hợp nhất với điều kiện cụ thể của công ty và tình hình thị trường tài chính. Việc lựa chọn trái phiếu thích hợp là rất quan trọng vì có liên quan đến chi phí trả lãi, cách thức trả lãi, khả năng lưu hành và tính hấp dẫn của trái phiếu. Trên thị trường tài chính ở nhiều nước, hiện nay thường lưu hành những loại trái phiếu công ty như sau: - Trái phiếu có lãi suất cố định Loại trái phiếu này thường được sử dụng phổ biến, cho nên khi nói đến trái phiếu công ty người ta thường hay nhắc đến lãi suất cố định. Lãi suất được ghi ngay trên mặt trái phiếu và không thay đổi trong suốt kỳ hạn của nó.
Để huy động vốn trên thị trường bằng trái phiếu, phải tính đến mức độ hấp dẫn của trái phiếu.