Chương 1: Cơ sở lý luận chung về quản lý chỉ phí dự án đầu tư xây dựng công trình “Chương 2: Thực trạng công tác quản lý chỉ phí đầu tư xây dựng các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước ở Thành phố Phủ Lý “Chương 3: Đề xuất một số giái pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chỉ phí đầu tư xây dựng công trinh trên địa bản Thành phố Phủ Lý: CHUONG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VE QUAN LY CHI PHÍ DỰ ÁN DAU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH. Một số khái niệm cơ bản 1. Chi phí đầu tư xây dựng công trình Chỉ phi đầu tr xây dựng công trình là toàn bộ chi ph thiết để xây dung mới hoặc sửa chữa, cải tạo, mở rộng công trình xây dựng. Do đặc điểm của quá inh sản xt và đặc điểm của quá trình xây dựng nên mỗi dự án đầu tư xây dựng công trình có chỉ phí riêng được xác định theo.
đặc điểm, tính chất kỹ thuật và yêu cầu công nghệ của quá trình xây dựng Chi phí dự án đầu tr xây dựng công trình được biểu thị qua tổng mì đầu tơ, tổng dự toán, dự toán công tình, giá thanh toán và qu tự khi kết thúc xây dụng đưa công trình vào khai thác sử dụng 1, Dy án đầu tư xây dựng công trình Dw ám là một quá trình đơn nhất, gồm một tập hợp các hoạt động có phối hợp và kiểm soát, có thời hạn bắt đầu vào kết thúc, được ti hành để đạt được mục tiêu phù hợp với các yêu cầu quy định, bao gồm cả các rằng buộc. về thời gian, chỉ phí và nguồn lực Dy én đầu tư là một tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm. đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, c: tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm hoặc dich vụ trong khoảng thời gian xác định. Dy án xây dựng là cách gọi tắt của Dy dn đâu tư xây dựng công trình, được giải thích trong Luật Xây dựng Việt Nam ngày 26-11-2003 như sau: Dur án đầu tw xây dung công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vin dé xây dựng mới, mỡ rộng hoặc cải tạo những công trinh xây dựng nhằm mục dich phát trién, duy tri, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định.
Dự án đầu tư xây dựng công. trình bao gdm phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở. Vốn ngân sách Nhà nước. Khái niệm nguén vẫn đầu tư xây dựng cơ bản và nguồn vn dau tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước ~ Vin đầu te: Là số vôn được sử dụng dé thực hiện mục đích đầu tư đã dự định bao gồm chỉ phí cho việc khảo sát thiết kế xây dựng, mua sắm, lắp đặt máy móc thiết bị và các chỉ phí khác được ghỉ trong trong mức đầu tư, là yếu tổ tiền dé của moi quá trình đầu tư.
én đầu tư có những đặc trưng cơ bản sau: M6t là: Vốn được biểu hiện bằng giá trị của nguồn tai sản. Có nghĩa là vốn phải đại diện cho một lượng giá trị thực của tài sản hữu hình và tài sản vô hình. Hai là: Von phải gắn với một chủ sở hữu nhất định. Do vậy, nếu ở đâu không xác định được đúng chủ sở hữu vốn, thì ở đó việc sử dụng vốn sẽ lãng.
phí kém hiệu quả, Ba là: Trong nền kinh tế thị trường, vốn được coi là hàng hoá đặc biệt. Vấn là hàng hoá vi: cũng giống như các hàng ho khác, nó có giá trị và giá tr sử đụng, Có chủ sở hữu và là một giá tị đầu vào của quả trình sản xuất. Nó là hàng hoá đặc biệt vì : Thứ nhất, nó có thể tách rời quyền sở hữu vốn và quyền. sử dung vốn.
Thứ hai, vốn là yếu tố đầu vào phải tính chỉ phí như các hing hoá khác; nhưng bản thân nó lại được cấu thành trong đầu ra của nền kinh tế, Thứ ba, chí phí vốn phải được quan niệm như chi phí khác (vật liệu, nhân công, máy .) kể cả trong trường hợp von tự có bỏ ra. "Bắn là: Von có giá trị về mat thời gian. Ở tại các thời điểm khác nhau thi giá trị của đồng vốn cũng khác nhau. Đồng tiền càng dan trải theo thời gian, thì nó càng bị mất giá, độ rủi ro cảng lớn.
Bởi vậy khi thẩm định (hay xác định) hiệu quả của một dự án đầu tư người ta phải đưa các khoản thu và chỉ về cùng một thời điểm dé đánh giá và so sánh. Xăm là: Vén phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định, đủ sức dé đầu tư cho một dự án kinh doanh, “Sáu là: Vốn phải vận động trong đầu tư kinh doanh và sinh lãi. Vốn được biểu hiện bằng tiền, nhưng chưa han tiền là von. Tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn, dé tiền trở thành vốn, thi đồng tiền đó phải vận động trong môi.
trường của hoạt động đầu tư, kinh đoanh va sinh lãi “Từ những phân tích trên day ta có thể khái niệm về vốn đầu tư như sau Von đầu tư là giá trị tai sản xã hội (bao gồm tải sản tai chính, tải sản hữu hình, tài sản vô hình) được bỏ vào đầu tư nhằm mang lại hiệu quả trong tương lai. ~ Nguồn vin đầu tw: Nước ta đang trên con đường hội nhập và phát triển. Vốn là yếu tổ quan trọng nhất đối với sự phát triển là tăng trưởng kinh tế. Là một trong những.
nhân tố quyết định sự thành công của sự nghiệp CNH - HDH đất nước. 'Vốn đầu tu phát triển kinh tế được hình thành từ hai nguồn: Nguồn vốn trong nước và nguồn vốn ngoài. Ngày nay, trong điều kiện quốc tế hoá đời sống KT - XH, mở cửa và hội nhập, hầu hết các quốc gia đều kết hợp huy động cả hai nguồn vốn trên. Đối với nước ta và các nước đang phát triển khac có tốc độ tăng trưởng chậm, thu nhập bình quân đầu người thấp, nguồn vốn tiết kiệm so với GDP còn hạn hẹp, thì việc kết hợp huy động vốn nước ngoài.
với vốn trong nước là rất edn thiết, trong đó vốn trong nước giữu vai trò chủ đạo. Điều đó không những khả phục được tinh trạng thiếu vốn ma còn có, điều kiện tiếp thu được công nghệ hiện đại của nước ngoài; nâng cao trình độ ‘quan lý và tăng thêm việc làm. ~ Nguồn vốn nước ngoài huy động cho đầu tư XDCB thông qua: vay ng, nhận viện trợ, hoặc thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) ~ Nguồn vốn trong nước là toàn bộ nguồn lực của một quốc gia có thể huy động vào đầu tư, thực hiện các mục tiêu kinh tế — xã hội của đất nước. Nguồn vốn trong nước bao gồm: nguồn tiết kiệm, nguồn nhân lực, nguồn tải nguyên thiên nhiên và ngud vô hình.
Vj trí vai trò của nguôn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước đối với đầu tư xây dựng cơ bin, 'Ngân sách Nhà nước là một phạm trù kinh tế và một phạm trừ lịch sử Sự hình thành và phát triển của ngân sách Nhà nước gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của nền kinh té hàng hoá tiễn tệ trong phương thức sản xuất của các cộng đồng và Nhà nước của từng cộng đồng. Nói cách khác sự ra đời của Nhà nước, sự tồn tại của nền kinh tế hàng hoá tiền tệ là tiền đề cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của ngân sách Nhà nước. Nói đến nguồn vốn là nói đến nguồn gốc xuất xứ để có được vốn đó. Đứng trên giác độ một chủ dự án, để hình thành một dự án đầu tr xây dựng có thể sử dung các nguồn vốn sau đây - Nguôn vốn ngân sách Nhà nước, - Nguồn vốn vay.
~ Nguôn vốn tự bô sung. ~ Nguồn huy động trong quá trình xây dựng công trình. Nguồn vốn của ngân sách Nha nước là một bộ phận vốn đầu tư xây dựng cơ bản được nhà nước tập trung vào ngân sách Nha nước dùng dé đầu tư xây ‘dung công trình theo myc tiêu phát triển kinh tế của nhà nước cho đầu tư xây đựng cơ bản. Trong mỗi thời kỳ, tủy vào điều kiện lịch sử cụ thể và nhiệm vụ.
phát triển kinh tế — xã hội của đất nước mà nguồn vốn ngân sách Nhà nước bổ trí cho đầu tư xây dựng cơ bản với tỷ lệ khác nhau. Hiện nay nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước được bố trí trực tiếp cho các. công trình văn hoá, y tế, giáo dục, quản lý nhà nước, cơ sở hạ tằng và những công trình trọng điểm quan trọng, có ý nghĩa làm thay đổi cơ cấu kinh tế của củ nước, vùng lãnh thổ và địa phương. Chi đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước là quá trình nhà nước sử dụng một phần vối tiễn tệ đã tập trung được dưới hình thức: Thus phí, lệ phí.
dé đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tang kinh tế, văn hoá xã hội. khoản chỉ này có tác dụng thúc day nền kinh tế tăng trưởng và phát triển. ý nghĩa đó người ta coi khoản chỉ này là chỉ cho tích lug. Chi đầu tư xây dựng cơ bản là khoản chỉ được ưu tiên hàng đầu trong.
tổng chỉ ngân sách Nhà nước. Chi đầu tr xây dựng cơ bản của ngân sách Nhà nước là quá trình sử dụng một phần vốn tiền tệ đã được tập trung vào ngân sách Nha nước nhằm thực hiện tái sản xuất giản đơn và tai sản xuất mo rộng, từng bước tăng cường và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế. “Chỉ đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước được thực hiện hàng năm nhằm mục đích dé đầu tư xây dựng các công trình, kết cấu hạ ting kinh tế, văn. hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, các công trình không có khả năng thu hồi vốn.
"Để quản lý có hiệu quả vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước chúng ta can tiền hành phân loại khoản chỉ nay. Phân loại các khoản chi là việc sắp xếp các khoản chi có củng mục dich, cùng tinh chat thành loại chỉ.