mở đầu, kết luận, luận văn gồm 4 chương: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu,cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý chi ngân sách nhà nước tại cấp Tổng cục Chƣơng 2: Phương phápnghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng quản lý chi ngân sách nhà nước tại Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam Chƣơng 4: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước tại Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNHNGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝLUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚCTẠI CẤP TỔNG CỤC 1. Tổng quan nghiên cứu các côngtrình có liên quan đề tài 1. Các công trình nghiên cứuliên quan Đề tài này nghiên cứu về Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, các công trình nghiên cứu về quản lý chi ngân sách tổ chức thuộc chính phủ các nước khác liên quan đến chủ đề Biển-Đảo vốn rất hiếm và rất khó tiếp cận. Trên thực tế cũng chưa có công trình nào nghiên cứu của người nước ngoài nào đi sâu về Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam hay các tổ chức tương tự, do vậy luận văn chủ yếu tiếp cận các công trình nghiên cứu trong nước có liên quan đến chủ đề nghiên cứu.
Quản lý chi NSNN là một vấn đề nhận được sự quan tâm lớn từ phía các bộ, ngành, tổ chức và cá nhân. Do đó, cho đến nayđã có không ít bài viết, công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực này như: - Lê Trung Tá (2016), “Quản lý chi ngân sách nhà nước tại Liên hiệp Các tổ chức hữu nghị Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ,trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận văn đã đề cập đến quản lý chi NSNN tại Liên hiệp Các tổ chức hữu nghị Việt Nam. Tuy nhiên, quản lý chi NSNN tại đơn vị này phụ thuộc rất nhiều vào tính chất đặc thùcủa một cơ quan hoạt động đối ngoại nhân dân và công tác phi chính phủ nước ngoài.
- Trần Quang Huy (2012), “Hoàn thiện công tác quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp thuộc Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ, trường Học Viện Tài chính, 5 Luận văn đã hệ thống hoácác lý luận cơ bản về cơ chế quản lý thu, chi, về huy động và sử dụng nguồn ngân sách, các quan hệ tài chính tại các đơn vị thuộc Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam. Phân tích, đánh giáthực trạng và đưa ra nguyên nhân của những hạn chế trong công tác quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam. Đãđề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện công tác quản lý tài chính ở các đơn vị sự nghiệp thuộc Cục Địa chấtvà Khoáng sản Việt Nam. Việc quản lýtài chính đối với các đơn vị thuộc lĩnh vực địa chất và khoáng sản cũng đơn giản hơn lĩnh vực biển và hải đảo do là đơn vị có truyền thống đã thành lập và phát triển qua nhiều năm lại cócác định mức kinh tế kỹ thuật và bộ đơn giá phục vụ xây dựng dự toán.
- Lê Thanh Hải (2012),“Hoàn thiện cơ chế quản lý chi ngân sách nhà nước cho hoạt động giáo dục và đào tạo tạiTrườngcao đẳng Tài nguyên và Môi trường miền Trung”, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Thương Mại. Đề tàiđã phân tích sự cần thiết của việchoànthiện cơ chế quản lý chi NSNN cho giáo dục và đào tạo.Phân tích,đánh giá thực trạng và đưa ra các định hướng, giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý chi NSNNcho giáo dục và đào tạo tại Trường cao đẳng Tài nguyên và Môitrường miền Trung. - Lê Thị Oanh (2010 – trang 12-16), “Thực trạng chithường xuyên ngân sách nhà nước”, thông tin, Đại học Duy Tân. Bài thông tin đượcđăng trên trang chuyên san của Trường Đại học Duy Tân đã chỉ ra và đánh giá thực trạng chi thường xuyên của NSNN, tuy nhiên, chưa phân tíchđược tồn tại và giải pháp cho quản lý chi thường xuyên được hoàn thiện hơn.
- Trần Thi Quỵ̀nh (2014), “Hoàn thiện công tác quản lý chi tại các đơn vị sự nghiệp ngành thông tin thương mại” , Luận văn Thạc si ,̃‹ Trường Đại học Thương Mại. 6 Đề tài đã phản ánh một số nét cơ bảnvề đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực thông tin thương mại nói riêng. Thực trạng công tác quản lý chi trong các đơn vị sự nghiệp ngành thông tin thương mại, người viết cũng đưa ra quan điểm và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách tại đó. Tuy nhiên,những vấnđề được nêu lên trong đề tài là thực trạng hoạt động chi ngân sách chứ chưa đi sâu phân tích để quản lý hoạt động chi.
- Lương Việt Hưng (2013),“Hoàn thiện cơ chế tự chủ về sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước đối với các đơn vị của Tổng cục Môi trường”, Luận văn Thạc sĩ, Học viện Tài chính. Luận văn đã đưa ra một số lý luậncơ bản về cơ chế tự chủ về sử dụng kinh phí NSNN,thực trạng về việc tự chủ sử dụng kinh phí NSNN tại Tổng cục Môi trường. Tuy nhiên, đề tài chỉ đề cập đến cơ chế tự chủ chung mà vẫn chưa tách biệt cơ chế tự chủ đối với các đơn vịsự nghiệp công lập và tự chủ tại cơ quan hành chính nhà nước. Nhận xét cáccông trình.
- Các công trình nghiên cứu đã nêu được những khái quátvề lý luận chi của NSNN. - Đã nêu thực trạng công tác chi NSNNnhưng bị giới hạn bởi không gian nghiên cứu khác nhau. - Chỉ ra được những tồn tại của hoạt độngchi ngân sách nhà nướctại các cơ quan, tổ chức từ đó đưa ra những hướng giải quyết. Như vậy có thể thấy chưa đề tài nào nghiên cứu chuyên sâu về Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, chưa có đề tài nào nghiên cứu tổng thể hoạt động quản lý chi NSNN,để từ đó đề xuất được những giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý hoạt động này ở Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam nhằm sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn NSNN và nâng cao công tác quản lý kinh tế - xã hội của đất nước.
Cơ sở lý luận về quản lý chi ngân sách nhànƣớc cấp Tổng cục 1. Ngân sáchnhà nước Ngân sách nhà nước, là phạmtrù lịch sử và là một phạm trù kinh tế; là một thành phần quan trọng trong hệ thốngtài chính. Thuật ngữ "Ngân sách nhà nước" được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội tại mọi quốc gia trên thế giới. Song các quan niệm về NSNN lại chưa thống nhất,người tađã đưa ra các định nghĩa về NSNN tùy theo các lĩnh vực nghiên cứu và các trường phái khác nhau.
Qua nghiên cứu, tác giả hoàn toàn đồng ý và sử dụng cáckhái niệmvề NSNN mà Luật ngân sách nhà nước đã quy định. Tại Luật ngân sách nhà nước số: 83/2015/QH13 ngày 25tháng 06 năm 2015 quy định: Ngân sách nhà nước là toàn bộcáckhoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Chi ngân sách nhà nước Chi ngân sách nhà nước làquá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã được tập trung vào ngân sách nhà nước và đưachúng đến mục đích sử dụng. Do đó, chi ngân sách nhà nước là những việc cụthể không chỉ dừng lại trên các định hướng mà phải phân bổ chotừng hoạt động, từng mục tiêuvà từng công việc thuộc chức năng nhà nước (Tạp chí Tài chính, 2017).
Vai trò của chi ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nước có vai tròrất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của đất nước. Vai trò của ngân sách nhà nước luôn gắn liền với vai trò của nhànước theo từng giai đoạn nhất định. Đối với nền kinh tế thị trường,ngân sách nhà nước đóng vai trò quản lý vĩ mô đối với toàn bộ nền kinh tế, xã hội. 8 Ngân sách nhà nước là công cụ điềuchỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội, định hướng phát triển sản xuất, điều chỉnh đời sống xã hội, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả.
Thứ nhất, huy động các nguồn tàichính củaNSNN để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của nhà nước Mức động viên các nguồn tài chínhtừ các chủ thể trong nguồn kinh tế đòi hỏi phải hợp lý nếu mức động viênquá caohoặc quá thấp thì sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế,vì vậy cầnphải xác định mức huy động vào NSNN một cách phù hợp với khả năng đónggóp tài chính của các chủ thể trong nền kinh tế. Thứ hai, quản lý điều tiếtvĩ mô nềnkinh tế Ngân sách nhà nước là công cụđịnh hướnghình thành cơ cấu kinh tế mới, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh vàchống độc quyền. Trước hết, Chính phủ sẽ hướng hoạtđộng của các chủ thể trong nền kinh tế đi vào quỹ đạo mà chính phủ đã hoạch địnhđể hình thành cơ cấu kinh tế tối ưu, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển ổn địnhvà bền vững. Thông qua hoạt động chi ngân sách,Nhà nướcsẽ cung cấp kinh phí đầu tư cho cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành cácdoanh nghiệp thuộc các ngành then chốt trên cơ sở đó tạo môi trường và điều kiệnthuận lợi cho sự ra đời và phát triển các doanh nghiệp thuộc mọi thànhphần kinh tế có thể thấy rõ nhất tầm quan trọng của điện lực,viễn thông, hàng khôngđến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, việc cấp vốn hình thành các doanh nghiệp Nhà nước là một trong những biện pháp cănbảnđể chống độc quyền và giữ cho thị trường khỏi rơi vàotình trạng cạnh tranhkhông hoàn hảo. Và trong những điều kiện cụ thể,nguồn kinh phí trongngân sách cũng có thể được sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của các doanhnghiệp, đảm bảo tính ổn định về cơ cấu hoặc chuẩn bị cho việc chuyển sangcơ cấu mới hợp lý hơn. 9 Về mặt kinh tế, chi NSNNkích thích sự tăng trưởng kinh tế theo sự định hướng phát triển kinh tế xã hội thông qua cáccông cụ thuế và thuế suất của nhà nước sẽ góp phần kích thíchsản xuất pháttriển thu hút sự đầu tư của các doanh nghiệp. Ngoài ra nhà nướccòn dùng NSNN đầu tư vào cơ sở hạ tầng tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho các doanhnghiệphoạt động.
Về mặt xã hội, chi NSNNđóng vai trò điều tiết thu nhập giữa các tần lớp dân cư trongxã hội.Trợ giúp trực tiếp dànhcho những người có thu nhập thấp hay có hoàn cảnh đặc biệt nhưchi về trợ cấp xã hội, trợ cấp gián tiếp dưới hình thức trợ giá cho các mặt hàng thiết yếu,các khoản chi phí để thực hiện chính sách dân số, chính sách việc làm, chống mù chữ, hỗ trợ đồng bào bão lụt.